vanban.org

Điều 19. Căn cứ giao rừng, cho thuê rừng — Nghị định 23/2006/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2019 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/12/2011 Sửa đổi, bổ sung: 98/2011/NĐ-CP · 26/10/2011 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 83/2010/NĐ-CP · 23/07/2010
Chính phủ Ban hành 03/03/2006 Hiệu lực 25/03/2006 Hết hiệu lực toàn bộ 14 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 20 năm
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP Về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng · 23/2006/NĐ-CP
15/12/201198/2011/NĐ-CPSửa đổi Đang xem 25/03/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 23/2006/NĐ-CP › Chương III › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Căn cứ giao rừng, cho thuê rừng

Việc giao rừng, cho thuê rừng căn cứ vào các quy định sau:

1. Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định.

2. Quỹ rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng của địa phương.

3. Nhu cầu sử dụng rừng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn phải được thể hiện trong các văn bản sau:

a) Đối với tổ chức phải có dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nếu là dự án sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; dự án và văn bản thẩm định của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với tổ chức không sử dụng vốn ngân sách nhà nước; dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư.

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn phải có đơn được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có rừng xác nhận.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đề nghị thuê rừng thì hộ gia đình, cá nhân phải có dự án đầu tư và văn bản thẩm định của Phòng chức năng thuộc cấp huyện.

4. Phương án giao rừng, cho thuê rừng do Ủy ban nhân dân cấp xã lập có sự tham gia của đại diện các đoàn thể và đại diện nhân dân các thôn trong cấp xã và phải được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.