Điều 9. Hội đồng Tư vấn chiến lược
1. Hội đồng Tư vấn chiến lược giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc định hướng chiến lược, chính sách, ưu tiên của Quỹ theo quy định pháp luật và quy định tại Nghị định này.
2. Hội đồng Tư vấn chiến lược có nhiệm vụ như sau:
a) Tư vấn định hướng chiến lược phát triển trung hạn, dài hạn của Quỹ phù hợp với chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ;
b) Tư vấn định hướng nội dung ưu tiên tài trợ, hỗ trợ của Quỹ trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia đã được phê duyệt;
c) Tư vấn đổi mới mô hình, công cụ và phương thức tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ của Quỹ theo thông lệ quốc tế;
d) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
3. Hội đồng Tư vấn chiến lược có từ 07 đến 09 thành viên, bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, là các nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước, nhà quản lý có kinh nghiệm thực tiễn, đại diện doanh nghiệp. Thành viên Hội đồng Tư vấn chiến lược làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan, trung thực, phòng ngừa xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật. Hội đồng Tư vấn chiến lược do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm. Nhiệm kỳ của Hội đồng Tư vấn chiến lược là 05 năm.
4. Hội đồng Tư vấn chiến lược làm việc theo chương trình, kế hoạch hằng năm hoặc theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.