vanban.org

Điều 64. Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan — Nghị định 17/2023/NĐ-CP

Chính phủ Ban hành 26/04/2023 Hiệu lực 26/04/2023 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 3 năm
Nghị định số 17/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan · 17/2023/NĐ-CP
09/04/2026134/2026/NĐ-CPSửa đổi, bổ sung Hiện hành 08/04/2026116/2026/NĐ-CPSửa đổi, bổ sung 26/04/2023Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 17/2023/NĐ-CP › Chương VI › Mục 2 › Điều 64
Đọc toàn văn

Điều 64. Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại các điều 28 và 35 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

1. Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan: Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả quy định tại Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ; các đối tượng được bảo hộ quyền liên quan quy định tại Điều 17 của Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Có yếu tố xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong đối tượng bị xem xét.

3. Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan, trừ trường hợp đồng tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện hành vi xâm phạm với các đồng tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan còn lại và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều 20, khoản 5 Điều 29, khoản 3 Điều 30, khoản 3 Điều 31 và các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Thay cụm từ/đính chính bởi 134/2026/NĐ-CP · hiệu lực 09/04/2026

4. Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên không gian mạng mà người tiêu dùng hoặc người khai thác, sử dụng nội dung thông tin số tại Việt Nam.