Điều 5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi là một năm, kể từ ngày hành vi vi phạm hành chính được thực hiện. Nếu quá thời hạn trên thì không bị xử phạt, nhưng buộc phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định này.
2. Đối với người bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm theo quy định của Nghị định này là hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt hành chính; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vi phạm theo quy định của pháp luật.
3. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm tổ chức, cá nhân vi phạm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt vi phạm hành chính.