vanban.org

Điều 56. Chế độ thông tin trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính — Nghị định 139/2021/NĐ-CP

Chính phủ Ban hành 31/12/2021 Hiệu lực 01/01/2022 Hết hiệu lực một phần 11 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 4 phiên bản · 10 năm
Nghị định số 139/2021/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa · 139/2021/NĐ-CP
15/05/202680/2026/NĐ-CPSửa đổi, bổ sung Hiện hành 01/01/2022Bản gốcThay thế
Nghị định số 132/2015/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa · 132/2015/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 139/2021/NĐ-CP › Chương IV › Điều 56
Đọc toàn văn

Điều 56. Chế độ thông tin trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính

1. Đối với giấy phép, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển cho cơ quan đã cấp các loại giấy tờ đó để tiến hành việc thu hồi theo quy định của pháp luật, thông báo bằng văn bản hoặc bằng các hình thức phù hợp khác về Cục Cảnh sát giao thông và thông báo cho người vi phạm biết.

2. Trường hợp tước quyền sử dụng giấy phép, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề khác thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt phải thông báo bằng văn bản hoặc hình thức khác cho cơ quan cấp giấy tờ đó và Cục Cảnh sát giao thông.

3. Thông báo gửi cho cơ quan cấp giấy tờ, Cục Cảnh sát giao thông phải ghi rõ loại giấy tờ tạm giữ hoặc bị tước quyền sử dụng: tên, số, ký hiệu của giấy tờ, số đăng ký phương tiện, thời gian tạm giữ, thời gian tước quyền sử dụng, họ tên, địa chỉ của người có giấy tờ bị tạm giữ hoặc bị tước quyền sử dụng và hành vi vi phạm hành chính.