Điều 20 .
1. Được phép xuất khẩu, nhập khẩu và tái xuất khẩu mẫu vật của các loài động vật, thực vật được quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES từ Việt Nam đến một nước không phải là thành viên Công ước CITES khi đáp ứng đủ những điều kiện sau:
a) Giấy phép và giấy chứng chỉ của các nước chưa là thành viên phải có tên, dấu và chữ ký của các cơ quan tương đương với Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES được Chính phủ nước đó chỉ định;
b) Định loại chính xác loài theo tiêu chí của Công ước;
c) Chứng nhận xuất xứ hoặc giấy giải thích việc không có chứng nhận xuất xứ do cơ quan tương đương với Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES được Chính phủ nước đó chỉ định;
d) Nếu xuất khẩu mẫu vật các loài thuộc Phụ lục I và II, cơ quan khoa học tương đương với Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES do Chính phủ nước đó chỉ định cấp giấy chứng nhận xác nhận việc khai thác những mẫu vật đó là hợp pháp và không ảnh hưởng xấu cho sự tồn tại của loài đó trong thiên nhiên;
đ) Nếu tái xuất từ nước không phải thành viên Công ước CITES, cơ quan tương đương với Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES được Chính phủ nước đó chỉ định chứng nhận việc nhập khẩu vào nước đó được thực hiện không trái với các quy định của Công ước;
e) Khi xuất khẩu mẫu vật sống từ các nước không phải thành viên Công ước CITES thì việc vận chuyển phải được chuẩn bị tốt để giảm thiểu tối đa những nguy hiểm hay thương tích đối với mẫu vật sống.
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam công nhận cơ quan thẩm quyền tương đương nếu các cơ quan này đã thông báo với Ban thư ký CITES hoặc sau khi tham vấn với Ban Thư ký CITES.
3. Được phép nhập khẩu các loài động vật, thực vật được quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES do gây nuôi sinh sản hoặc trồng cấy nhân tạo ở các nước không là thành viên sau khi tham vấn với Ban Thư ký CITES.
4. Được phép nhập khẩu các loài thuộc Phụ lục I của Công ước CITES vì mục đích bảo tồn hay bảo vệ loài đó sau khi tham vấn với Ban thư ký CITES.