Điều 13. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Đại diện cho Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia Hội nghị các nước thành viên.
2. Quan hệ với Ban thư ký CITES, các nước thành viên, các Tổ chức quốc tế để tổ chức thực hiện Công ước CITES tại Việt Nam.
3. Báo cáo thường kỳ hàng năm và báo cáo định kỳ 2 năm về việc thực hiện Công ước theo quy định của Công ước CITES, gửi cho các cơ quan có liên quan của Việt Nam và Ban Thư ký CITES.
4. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan để thực thi Công ước CITES tại Việt Nam, bao gồm các công việc sau đây:
a) Soạn thảo để trình Chính phủ hoặc các Bộ, ngành hữu quan ban hành theo thẩm quyền các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã;
b) Biên soạn các tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức về Công ước CITES cho cộng đồng;
c) Tham khảo ý kiến các cơ quan hữu quan trong việc chỉ định hoặc thay đổi các cảng xuất khẩu, cảng nhập khẩu các loài động vật, thực vật hoang dã theo quy định của Công ước CITES;
d) Thực hiện thanh tra việc xuất khẩu, nhập khẩu mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã tại các cửa khẩu đường bộ, đường sắt, cảng biển và cảng hàng không;
đ) Định kỳ công bố danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES được bổ sung sau Hội nghị các nước thành viên 2 năm họp một lần;
e) Xem xét, cấp và thu hồi giấy phép, giấy chứng chỉ xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu hoặc nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã theo quy định hiện hành và thu lệ phí cấp phép. Phối hợp cùng Bộ Thuỷ sản trong việc xét, cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu hoặc nhập nội từ biển mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã sống ở môi trường nước được quy định trong các Phụ lục của Công ước CITES;
g) Trong trường hợp cần thiết, Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam sẽ đánh dấu mẫu vật được phép xuất khẩu, nhập khẩu;
h) Hướng dẫn, giám sát, thanh tra và kiểm tra các trại nuôi sinh sản động vật và cơ sở trồng cấy nhân tạo thực vật vì mục đích thương mại;
i) ủy quyền cho cơ quan kiểm lâm cấp tỉnh thực hiện việc đăng ký trại nuôi sinh sản và cơ sở trồng cấy nhân tạo đối với các loài động vật, thực vật hoang dã được quy định trong Phụ lục II, III của Công ước CITES và các loài động vật hoang dã thông thường;
k) Tiến hành làm thủ tục đăng ký với Ban thư ký CITES quốc tế các trại nuôi sinh sản và cơ sở trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục I của Công ước CITES đủ điều kiện do Công ước quy định và trình hạn mức xuất khẩu của các trại đó;
l) Xây dựng 3 Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã ở 3 miền Bắc, Trung, Nam tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh;
m) Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng kiểm lâm, công an, hải quan, biên phòng, thuế, quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành bảo vệ thực vật, thanh tra chuyên ngành thú y để phối hợp thanh tra, kiểm tra việc xuất khẩu, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã theo đúng quy định của Công ước CITES và pháp luật Việt Nam;
n) Thành lập Văn phòng CITES Việt Nam tại Cục Kiểm lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Văn phòng có chức năng thường trực cho Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam.
5. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam:
a) Phối hợp với Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam đề nghị sửa đổi danh mục các loài động vật, thực vật quý hiếm của Việt Nam để đưa vào các Phụ lục của Công ước CITES;
b) Cùng với Cơ quan thẩm quyền khoa học CITES Việt Nam xác định hạn mức xuất khẩu hàng năm cho các trại nuôi sinh sản hoặc cơ sở trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã đã được đăng ký;
c) Xây dựng chi tiết quy định tiêu chuẩn kỹ thuật các trại nuôi sinh sản và cơ sở trồng cấy nhân tạo, quy định việc đánh dấu mẫu vật, quy định về vận chuyển động vật sống.