vanban.org

Điều 24 — Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/01/2016 Thay thế: 57/2014/QH13 · 20/11/2014 Sửa đổi, bổ sung: 83/2007/QH11 · 02/04/2007
Quốc hội Ban hành 25/12/2001 Hiệu lực 07/01/2002 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 9 phiên bản · 66 năm
Luật Tổ chức Quốc hội 2001 · 30/2001/QH10
Luật Tổ chức Quốc hội 1992 · 66-LCT/HĐNN8
Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981 · 1-LCT/HĐNN7
Luật Tổ chức Quốc hội 1960
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 30/2001/QH10 › Chương III › Điều 24
Đọc toàn văn

Điều 24

1. Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Số Phó Chủ tịch và số Ủy viên Hội đồng dân tộc do Quốc hội quyết định.

Thành viên Hội đồng dân tộc do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội. Số thành viên hoạt động chuyên trách do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.

2. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Điều hành công việc của Hội đồng Dân tộc;

b) Triệu tập và chủ trì các phiên họp của Hội đồng Dân tộc;

c) Giữ mối liên hệ thường xuyên với các thành viên của Hội đồng Dân tộc;

d) Được tham dự các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc;

đ) Thay mặt Hội đồng dân tộc giữ mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan;

e) Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao.

3. Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc giúp Chủ tịch Hội đồng dân tộc thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Hội đồng dân tộc. Khi Chủ tịch Hội đồng dân tộc vắng mặt thì một Phó Chủ tịch được Chủ tịch Ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch.