vanban.org

Điều 51 — Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/12/2003 Thay thế: 12/2003/QH11 · 26/11/2003
Quốc hội Ban hành 21/06/1994 Hiệu lực 05/07/1994 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 7 phiên bản · 42 năm
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 · 85/2015/QH13
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 · 12/2003/QH11
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994
05/07/1994Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 · 20-LCT/HĐNN8
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương VII › Mục 2 › Điều 51
Đọc toàn văn

Điều 51

Sau khi nhận được biên bản kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

Biên bản phải ghi rõ :

- Số đại biểu Hội đồng nhân dân được ấn định cho đơn vị bầu cử ;

- Số người ứng cử ;

- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử ;

- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỉ lệ so với tổng số cử tri ;

- Số phiếu phát ra ;

- Số phiếu thu vào ;

- Số phiếu hợp lệ ;

- Số phiếu không hợp lệ ;

- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử ;

- Danh sách những người trúng cử ;

- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết ; những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết ; những khiếu nại báo cáo lên Hội đồng bầu cử giải quyết.

Biên bản làm thành bốn bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký ban bầu cử để gửi đến Hội đồng bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn thì biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.