vanban.org

Điều 48 — Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 20-LCT/HĐNN8

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/07/1994 Thay thế: Không số · 21/06/1994
Quốc hội Ban hành 30/06/1989 Hiệu lực 11/07/1989 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 7 phiên bản · 42 năm
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 · 85/2015/QH13
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 · 12/2003/QH11
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 · 20-LCT/HĐNN8
11/07/1989Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 20-LCT/HĐNN8 › Chương VII › Mục 2 › Điều 48
Đọc toàn văn

Điều 48

Sau khi nhận được biên bản của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

Biên bản phải ghi rõ:

- Số đại biểu Hội đồng nhân dân ấn định cho đơn vị bầu cử;

- Số người ứng cử;

- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;

- Số phiếu phát ra; số phiếu thu vào;

- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri đã đi bầu so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ;

- Số phiếu không hợp lệ;

- Số phiếu trắng;

- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

- Danh sách những người trúng cử;

- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết;

- Những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết; những khiếu nại chuyển lên Hội đồng bầu cử giải quyết.

Biên bản làm thành bốn bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký; một bản gửi Hội đồng bầu cử, một bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân, một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp với Ban bầu cử. Đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, thì biên bản làm thành ba bản.