vanban.org

Điều 18 — Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 20-LCT/HĐNN8

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/07/1994 Thay thế: Không số · 21/06/1994
Quốc hội Ban hành 30/06/1989 Hiệu lực 11/07/1989 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 7 phiên bản · 42 năm
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 · 85/2015/QH13
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 · 12/2003/QH11
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 · 20-LCT/HĐNN8
11/07/1989Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 20-LCT/HĐNN8 › Chương III › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18

Chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp ấy có trách nhiệm thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử có từ năm đến mười lăm người, gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri ở địa phương.

Ban bầu cử bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký.

Ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

1- Kiểm tra, đôn đốc các Tổ bầu cử chấp hành đúng pháp luật về bầu cử;

2- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;

3- Nhận tài liệu và phiếu bầu cử của Hội đồng bầu cử. Phân phối tài liệu và phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử, chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử;

4- Kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc bầu cử ở tất cả các phòng bỏ phiếu;

5- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác của các Tổ bầu cử;

6- Nhận, tổng hợp và kiểm tra biên bản kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến, trên cơ sở đó lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình;

7- Chuyển giao biên bản xác định kết quả bầu cử cho Hội đồng bầu cử và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.