vanban.org

Điều 26 — Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 20-LCT/HĐNN8

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/07/1994 Thay thế: Không số · 21/06/1994
Quốc hội Ban hành 30/06/1989 Hiệu lực 11/07/1989 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 7 phiên bản · 42 năm
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 · 85/2015/QH13
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 · 12/2003/QH11
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 · 20-LCT/HĐNN8
11/07/1989Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 20-LCT/HĐNN8 › Chương V › Điều 26
Đọc toàn văn

Điều 26

Chậm nhất là hai mươi ngày, kể từ ngày công bố thời gian bầu cử, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức hội nghị hiệp thương để thoả thuận tỷ lệ số lượng người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cho các tập thể cử tri ở cơ sở, các tổ chức xã hội, các đơn vị Quân đội nhân dân.

Trên cơ sở tỷ lệ đã thoả thuận, hội nghị các tập thể cử tri ở cơ sở, hội nghị các tổ chức xã hội các cấp, hội nghị các cử tri ở xã, phường, thị trấn và hội nghị các đơn vị Quân đội nhân dân tiến hành đề cử những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Tại các Hội nghị này, công dân có quyền tự ứng cử hoặc đề cử người khác ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Người ứng cử nếu được quá nửa số thành viên hội nghị tán thành, thì được ghi vào danh sách đề cử của hội nghị.

Căn cứ vào danh sách đề cử của các hội nghị nói trên, và tỷ lệ phân bổ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc địa phương có trách nhiệm tổ chức hội nghị hiệp thương để thỏa thuận lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và phân bổ theo các đơn vị bầu cử.

Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân địa phương nào phải là người cư trú hoặc công tác thường xuyên ở địa phương đó.

Số người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó để cử tri chọn bầu khi bỏ phiếu.