Điều 18. Mất hoặc hạn chế năng lực hành vi
1. Đối với việc mất hoặc hạn chế năng lực hành vi sẽ áp dụng pháp luật và thẩm quyền của cơ quan nước ký kết mà người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi là công dân.
2. Nếu cơ quan tư pháp của nước ký kết này thấy có căn cứ để công nhận việc mất năng lực hành vi của công dân nước ký kết kia đang thường trú hoặc tạm trú trên lãnh thổ nước mình, thì cơ quan này thông báo việc đó cho cơ quan tư pháp của nước ký kết kia.
3. Nếu các cơ quan tư pháp đã được thông báo theo quy định nói ở khoản trên, trong thời hạn 3 tháng, không ra quyết định hoặc không thông báo rằng việc này có thể do cơ quan tư pháp nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú giải quyết, thì cơ quan này tiến hành thủ tục công nhận mất năng lực hành vi của người đó theo pháp luật nước mình, nếu cơ sở để mất hoặc hạn chế năng lực hành vi được quy định có trong pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân. Quyết định về việc mất hoặc hạn chế năng lực hành vi được gửi cho cơ quan tương ứng của nước ký kết kia.
4. Trong trường hợp cấp thiết, cơ quan tư pháp nơi có công dân của nước ký kết kia thường trú hoặc tạm trú và thuộc diện mất hoặc hạn chế năng lực hành vi có thể ra quyết định cần thiết để bảo vệ người đó hoặc tài sản của người đó. Bản sao quyết định được gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết kia. Nếu cơ quan có thẩm quyền đó lại ra quyết định khác, thì quyết định trên được huỷ bỏ.