Điều 5. Ủy thác tư pháp
1. Nếu Hiệp định này không có quy định khác, tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở bản ủy thác tư pháp phù hợp với pháp luật của nước được ủy thác.
2. Bên ủy thác tư pháp và các văn bản phụ đính phải được Nhà chức trách có thẩm quyền ký tên và đóng dấu chính thức. Nếu cần kèm theo bản dịch thì bản dịch phải do người phiên dịch được ủy nhiệm cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự của một nước ký kết chứng nhận là dịch đúng.
3. Trong việc tương trợ tư pháp, cơ quan của mỗi nước ký kết có thể dùng giấy tờ in sẵn của mình.
4. Bản ủy thác tư pháp cần nêu rõ:
a) Tên cơ quan tư pháp ủy thác;
b) Tên cơ quan tư pháp được ủy thác;
c) Vụ kiện chính xác đòi hỏi việc tương trợ tư pháp, mục đích yêu cầu của việc ủy thác và những tài liệu cần thiết để thực hiện việc ủy thác;
d) Họ, tên, quốc tịch, nơi thường trú hoặc tạm trú, nghề nghiệp của mỗi đương sự, bị can, bị cáo, người bị kết án, người làm chứng, và của người bị thiệt hại nếu có;
e) Họ, tên và địa chỉ của những người đại diện hợp pháp trong trường hợp những người này đã được chỉ định.
5. Giấy tờ ủy thác tống đạt giấy tờ, ngoài những điều nói ở khoản 4 trên đây còn phải ghi rõ địa chỉ đúng của người nhận và tính chất cả giấy tờ tống đạt.
6. Nếu là ủy thác lấy lời khai thì còn phải ghi rõ những câu hỏi cần đặt.
7. Trong những vụ án hình sự, giấy ủy thác còn phải nêu rõ tội danh và mô tả hành vi phạm tội, và trong chừng mực có thể, nêu rõ ngày sinh của các bị can và họ tên của bố mẹ họ.