vanban.org

Quyết định 196/2026/QĐST-LĐ — Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Bộ luật Lao động năm 2019; 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Nguyễn Minh T - Công ty TNHH S"
  • Tòa quyết gì? 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Điều 11 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Điều 122 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 196/2026/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 6 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Thu Thảo

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thủy Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực

16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Bà Nguyễn Thúy An – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 251/2026/LĐ-ST ngày 04 tháng 6 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 178/2026/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 6 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: tổ A,

ấp T, xã D, tỉnh Tây Ninh, có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH S; địa chỉ: Đường D, Lô N, KCN S, phường D, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Bùi Thị Tường V, sinh năm 1978; địa chỉ thường

trú: số A T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện theo ủy quyền, có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt.

2. Bảo hiểm xã hội cơ sở Dĩ An - Thành phố H; địa chỉ: Đường T, khu T, khu

phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ thường

trú: số A, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện theo ủy quyền, có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết

ông Nguyễn Minh T trình bày:

Tháng 5/2026, ông Nguyễn Minh T có nhu cầu rút bảo hiểm xã hội một lần thì

được thông báo quá trình đóng bảo hiểm xã hội của ông bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S từ tháng 10/2011 đến tháng 09/2012. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do có người sử dụng thông tin của ông Nguyễn Minh T để làm việc tại Công ty TNHH S và được công ty T2 với mã số 7411282409 trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012. Việc ký kết hợp đồng lao động giữa người sử dụng giấy tờ có tên Nguyễn Minh T và Công ty TNHH S là sai quy định, đã vi phạm quy tắc trung thực, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Minh T. Do đó, ông Nguyễn Minh T yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động có tên Nguyễn Minh T với người sử dụng lao động là Công ty TNHH S trong khoản thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012 là vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S trình bày: Về yêu cầu

tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của ông Nguyễn Minh T. Các chế độ của ông Nguyễn Minh T sau khi nghỉ việc tại công ty đã được công ty giải quyết đầy đủ cho ông T. Việc ông Nguyễn Minh T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa ông Nguyễn Minh T và Công ty TNHH S thì Công ty đồng ý với yêu cầu của ông Nguyễn Minh T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D trình bày: Qua

kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của ông Nguyễn Minh T sinh năm 1984 số CCCD xxxxxxxxxxxx, thì Công ty TNHH S có tham gia BHXH, BHYT cho ông Nguyễn Minh T theo số sổ BHXH 7411282409 có quá trình tham gia BHXH từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012 đã chốt sổ và chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Qua kiểm tra dữ liệu, ông Nguyễn Minh T còn có mã số BHXH xxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH từ tháng 6/2011 đến tháng 4/2025 tại Công ty Cổ phần V1. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa ông Nguyễn Minh T và Công ty TNHH S, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty TNHH S có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không? Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của ông Nguyễn Minh T, BHXH không lưu những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của ông Nguyễn Minh T, BHXH không có ý kiến.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của ông Nguyễn Minh T là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu ông Nguyễn Minh T; người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan, Công ty TNHH Sheang Lih Cycle và Bảo hiểm xã hội cơ sở Dĩ An - Thành phố H, có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012, người lao động có tên

Nguyễn Minh T giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty này theo số sổ 7411282409, Tuy nhiên, ông T cho rằng ông không có ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và làm việc tại Công ty T3 khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012 do có người sử dụng hồ sơ cá nhân của ông để ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH S.

Xét thấy, lời khai của ông Nguyễn Minh T phù hợp với xác nhận của Bảo

hiểm xã hội cơ sở Dĩ An - Thành phố H. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012, ông Nguyễn Minh T đang làm việc tại Công ty Cổ phần V1. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S làm việc tại Công ty T3 khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012 không phải ông T. Từ đó, dẫn đến sự trùng lặp về khoảng thời gian gia nhập bảo hiểm của ông Nguyễn Minh T vào khoảng thời gian trên giữa hợp đồng lao động được ký kết bởi ông Nguyễn Minh T (do người khác sử dụng hồ sơ cá nhân của ông T) và Công ty TNHH S.

Theo Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi, bổ sung năm 2002, năm

2006 và năm 2007, và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật dân sự 2005, thì giao dịch dân sự sẽ bị vô hiệu và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động , đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc có sử dụng hồ sơ cá nhân của ông Nguyễn Minh T để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH là 7411282409 vào khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012 tại Công ty TNHH S là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn

Minh T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Minh T với Công ty TNHH S (Việt Nam) theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411282409 là vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu

cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh T ý kiến của ông về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH S (Việt Nam) trong giai đoạn tháng 10/2011 đến tháng 9/2012 là một người khác, không phải ông Nguyễn Minh T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố

tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Ông Nguyễn Minh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 122, 127 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 19; Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của

Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày

14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Nguyễn Minh T.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa Ông Nguyễn Minh T với Công ty TNHH S

(Việt Nam) theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411282409 trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 9/2012 là vô hiệu toàn bộ.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411282409 không phải

là ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1984, giới tính: nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx.

Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Minh T được liên hệ với

C có thẩm quyền để thực hiện việc điều chỉnh, xử lý dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Nguyễn Minh T phải chịu

300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0034364 ngày 02/6/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

.

Cỡ chữ