vanban.org

Quyết định 15/2024/QĐ-TA

TAND TX. Lagi, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 18/10/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với PhA Ngọc A.

Thời giA chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Công A thị xã L có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thị xã L có quyền kháng nghị quyết định này trong thời giA 03 ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phan Ngọc A"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với PhA Ngọc A.
  • Căn cứ chính? Điều 94 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Số: 15/2024/QĐ-TA
L, ngày 18 tháng 10 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L

Với thành phần người tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán: Bà Đào Thị Yến Nhi

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 15/QĐ-TA ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Phan Ngọc A. Tên gọi khác: Không

Giới tính: Nam;

Sinh ngày 07 tháng 07 năm 1986;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Trình độ học vấn: 04/12.

Nguyên quán: Bình Thuận

Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Khu phố 5, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Không;

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 15/9/2022, bị Chủ tịch UBND phường T áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời hạn 06 tháng (Quyết định số: 247a/QĐ-UBND). Ngày 15/3/2023, A chấp hành xong (Quyết định số 02/GCN-UBND)

Hoạt động bản thân:

+ Ngày 18/4/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã L áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc” thời hạn 24 tháng (Quyết định số 02/2019/QĐ-TA). Ngày 31/01/2021, A chấp hành xong.

+ Ngày 05/8/2022, bị Chủ tịch Ủy bann nhân dân thị xã L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng do có hành vi “Cố ý gây thương tích” (Quyết định số 158/QĐ-XPVPHC). A chưa chấp hành quyết định nêu trên nhưng đã hết thời hiệu thi hành.

+ Ngày 12/8/2022, bị Công an thị xã L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng do có hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (Quyết định 0025262/QĐ-XPHC). A chưa chấp hành quyết định nêu trên nhưng đã hết thời hiệu thi hành.

Con ông Phan S và bà Nguyễn Thị L

(Phan Ngọc A vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

Đại diện cơ quA đề nghị: Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên họp: Ông Hoàng Văn Liêm – Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát hình sự (Văn bản ủy quyền số 1790/CALG ngày 14/10/2024).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L: Bà Nguyễn Thị Linh Đan –

Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Căn cứ lời khai Phan Ngọc A cùng với các tài liệu khác có tại hồ sơ thì nội dung vụ việc thể hiện như sau;

1. Về hành vi vi phạm:

Ngày 31/7/2022, Phan Ngọc A có hành vi đánh đập vợ là bà Bùi Thị Hoài là tại khu phố 5, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; hành vi của A đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 52 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Hành vi của Phan Ngọc A chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A bằng hình thức phạt tiền, số tiền 7.500.000 đồng tại Quyết định số 158/QĐ-XPHC ngày 05/8/2022.

Ngày 04/8/2022, Phan Ngọc A tiếp tục có hành vi đập phá tài sản của bà Nguyễn Thị Lý tại khu phố 5, phường T, hành vi của A đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền: 4.000.000 đồng tại Quyết định số 0025262/QĐ-XPHC ngày 12/8/2022

Ngày 14/8/2022, Phan Ngọc A tiếp tục có hành vi cố ý gây thương tích, vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 52 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an phường T lập biên bản vi phạm hành chính đối với A. Do trước đó Phan Ngọc A đã hai lần bị xử phạt hành chính, bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ban trong thời hạn 06 tháng về hành vi cố ý gây thương tích, nên bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 247a/QĐ-XPTT ngày 15/9/2022. A chấp hành xong ngày 15/3/2023.

Ngày 01/10/2024, Phan Ngọc A tiếp tục có hành vi xúc phạm dAh dự, nhân phẩm của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Lý nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 54 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Ngày 09/10/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T có văn bản đề nghị số 03/ĐN-UBND đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phan Ngọc A và chuyển hồ sơ đề nghị cho Trưởng Công A thị xã L

Tại văn bản đề nghị số: 1749/ĐN-CALG ngày 10/10/2024 của Công an thị xã L đề nghị Tòa án nhân dân thị xã L áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phan Ngọc A có lý lịch nêu trên tại Cơ sở giáo dục bắt buộc A1 thuộc xã Hòa Phú, huyện T, tỉnh Phú Yên với thời hạn 24 tháng.

2. Ý kiến của những người tham gia phiên họp:

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Phan Ngọc A đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, nhưng không tiến bộ mà tiếp tục có hành vi xúc phạm, lăng mạ danh dự, nhân phẩm của người khác. Vì vậy cần áp dụng biện pháp giáo dục hành chính là đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc để tiếp tục giáo dục đối với A. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phan Ngọc A với thời hạn 24 tháng, tại Cơ sở giáo dục bắt buộc A1 thuộc xã Hòa Phú, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Phan Ngọc A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày về nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L có ý kiến: Hồ sơ của Phan Ngọc A đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự. Quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phan Ngọc A, với thời hạn 22 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Hồ sơ đầy đủ tài liệu về hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng vi phạm, và phù hợp với quy định tại Điều 101, 102 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ về việc “Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc” nên hồ sơ đề nghị hoàn toàn hợp pháp.

Công an thị xã L có trụ sở tại phường Tân A, thị xã L, nên thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thuộc Tòa án nhân dân thị xã L, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm kể từ ngày Phan Ngọc A thực hiện lần cuối hành vi vi phạm là ngày 01/10/2024. Do đó, vẫn còn thời hiệu để xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Phan Ngọc A.

Phan Ngọc A là người đã đủ 18 tuổi trở lên, không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Khoản 2 Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Phan Ngọc A có nơi cư trú ổn định tại khu phố 5, phường T, thị xã L, nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, và chuyển hồ sơ đề nghị cho Trưởng Công A thị xã L. Trưởng Công A thị xã L chuyển hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã L xem xét là phù hợp với quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 101, Điều 102 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Phan Ngọc A đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý và Quyết định mở phiên họp, nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định Khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022

Về căn cứ xác định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, đã có đầy đủ cơ sở xác định, trong thời gian từ ngày 30/7/2022 đến ngày 04/8/2022, Phan Ngọc A đã hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản. Đến ngày 14/8/2022, Phan Ngọc A lại tiếp tục có hành vi cố ý gây thương tích, nên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời giA 06 tháng, đến ngày 15/3/2023 thì chấp hành xong. Ngày 01/10/2024, PhA Ngọc A tiếp tục có hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị L.

Hành vi của Phan Ngọc A đã vi phạm Điều 90, Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính, nên Phan Ngọc A là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, Phan Ngọc A là đối tượng có nhiều hành vi vi phạm hành chính trong thời giA ngắn, đã bị xử phạt hành chính và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn không tiến bộ. Vì vậy, cần thiết áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc để Phan Ngọc A có điều kiện lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc nhằm tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Do đó, đề nghị của Công A thị xã L và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng: Phan Ngọc A có nhân thân xấu, đã vi phạm hành chính nhiều lần và bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần, áp dụng biện pháp giáo dục tại phường 01 lần, vì vậy cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính đối với Phan Ngọc A.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị, Phan Ngọc A đã tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Khoản 2 Điều 9, Điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 93, Điều 94, khoản 1 Điều 101, Điều 102, Điều 105, Điều 107, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2020; Điểm a khoản 1 Điều 3, Khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022.

Căn cứ Điều 27 Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ: Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc;

Căn cứ Điều 15, Điều 52 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực A ninh, trật tự, A toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với: Phan Ngọc A.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Phan Ngọc A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc là: Cơ sở giáo dục bắt buộc A1 - Cục Cảnh sát quản lý Trại giam, Cơ sở giáo dục bắt buộc, Trường giáo dưỡng - Bộ Công A. Trụ sở: Thôn Liên Thạch, xã Hoà Phú, huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Trưởng Công an thị xã L có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thị xã L có quyền kháng nghị quyết định này trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định này

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công A thị xã L, tỉnh Bình Thuận có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này. Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- PhA Ngọc A;

- VKSND thị xã L;

- Trưởng CA thị xã L;

- Công A phường T;

- UBND phường T;

- Cơ sở giáo dục bắt buộc A1 thuộc xã Hòa Phú,

Đào Thị Yến Nhi huyện T, tỉnh Phú Yên;

- Lưu: HS;

PhA Ngọc A là người đã thành niên và có nơi cư trú ổn định tại khu phố 4, phường T, thị xã L. V có nhân thân xấu, từng bị Ủy ban nhân dân phường T áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do có hành vi sử dụng rượu, bia gây mất trật tự công cộng. Sau khi chấp hành xong, PhA Ngọc A vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Ngày 25/7/2024, Công A phường T phát hiện PhA Ngọc A có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy nên mời V về tru sở làm việc. Tại cơ quA chức năng, V khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/7/2024, V có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở thuộc khu phố 4, phường T, thị xã L.

Tại phiếu xét nghiệm nước tiểu ngày 25/7/2024 kết luận: Nước tiểu của PhA Ngọc A dương tính với MET (ma túy đá). Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 04/8/2024, Trung tâm Y tế L xác định PhA Ngọc A nghiện ma túy Methamphetamin. Cùng ngày, Công A phường T tiến hành thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện, đồng thời thông báo cho PhA Ngọc A về việc trong vòng 05 ngày sau khi nhận được thông báo thì phải đăng ký giáo dục tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại UBND phường T nhưng PhA Ngọc A không thực hiện. Do đó, ngày 10/8/2024, Công A phường T đã lập biên bản vi phạm về việc không thực hiện việc đăng ký giáo dục ma túy đối với PhA Ngọc A

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 Chủ tịch UBND phường T ra thông báo số 49/TB-UBND, thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với PhA Ngọc A.

Ngày 03/10/2024, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Văn bản số 373/ĐN-CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với PhA Ngọc A.

Tại phiên họp: Đại diện phòng Thương binh- Xã hội thị xã L đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại cơ sở điều trị ma túy tỉnh Bình Thuận với PhA Ngọc A trong thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

Người bị đề nghị PhA Ngọc A đã được Tòa án yêu cầu có mặt tại phiên họp nhưng vẫn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày về nội dung đề nghị của cơ quA đề nghị.

Đại diện VKSND thị xã L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán và những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng trình tự quy định, người bị đề nghị ông PhA Ngọc A đã được Tòa án yêu cầu có mặt tại phiên họp nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Hồ sơ được các cơ quA có thẩm quyền lập đúng đối tượng, trình tự và thời hiệu nên đại diện VKS đề nghị mở phiên họp theo thủ tục chung.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã L, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với PhA Ngọc A.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: Chủ tịch UBND phường T, thị xã L đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với PhA Ngọc A. Phòng Lao động - Thương binh xã hội thị xã L đã có văn bản số 373/LĐTBXH ngày 03/10/2024 và chuyển hồ sơ đề nghị TAD thị xã L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với PhA Ngọc A. Xét thấy hồ sơ đã đảm V đúng điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp, PhA Ngọc A đã được Tòa án yêu cầu có mặt tại phiên họp nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng do đó Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014.

Về nội dung: Xét thấy, PhA Ngọc A là người đã thành niên và có nơi cư trú ổn định. Vào ngày 21/7/2024, tại khu phố 4, phường T, PhA Ngọc A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị công A phường T phát hiện. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 04/8/2024, Trung tâm Y tế L xác định PhA Ngọc A nghiện ma túy Methamphetamin.

Ngày 15/8/2024, Công A phường T tiến hành thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện, đồng thời thông báo cho PhA Ngọc A về việc trong vòng 05 ngày sau khi nhận được thông báo thì phải đăng ký giáo dục tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại UBND phường T nhưng V không thực hiện. Hành vi không đăng ký giáo dục tự nguyện của PhA Ngọc A thuộc trường hợp đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, do vậy Ủy ban nhân dân phường T lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với PhA Ngọc A là đúng quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 2020, Điểm a Khoản 1 Điều 33, Khoản 1 Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP. Quá trình lập hồ sơ, đảm V đúng điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về giáo dục ma túy và quản lý sau giáo dục ma túy.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, hành vi của PhA Ngọc A nhận thấy: PhA Ngọc A là đối tượng có nhân thân rất xấu, từng bị áp dụng nhiều biện pháp xử lý hành chính như giáo dục tại phường, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cũng như từng bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản để lấy tiền ma túy sử dụng. Bản thân V nhận thức rõ ma túy là biệt dược độc hại, bị nghiêm cấm đồng thời cũng nhận thức rõ tác hại do ma túy đối với sức khỏe, cá nhân người sử dụng và cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, đối tượng bất chấp pháp luật, tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần thiết phải có biện pháp ngăn chặn, xử lý nhằm răn đe, giáo dục kịp thời đối với PhA Ngọc A. Tuy nhiên, quá trình làm việc với các cơ quA chức năng, V đều tự nguyện khai báo, ăn năn, hối lỗi đối với hành vi của bản thân, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm xử lý hành chính quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi bổ sung năm 2020.

Sau khi xem xét tính chất mức độ và hành vi sử dụng chất ma tuý của PhA Ngọc A; Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã L; Đại diện VKSND thị xã L là có căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người bị đề nghị PhA Ngọc A theo khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Nhằm đảm V trật tự A toàn xã hội trong phòng chống tác hại của ma túy cách ly PhA Ngọc A ra khỏi các tệ nạn xã hội để X được lao động, học tập, giáo dục trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội.

Căn cứ Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;

Căn cứ Điều 3, điểm d khoản 2 Điều 6; Khoản 2 Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Căn cứ Điều 2, Điều 3, Điều 20, Điều 22, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh Số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 13 về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”;

Căn cứ Các Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 42 và Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về giáo dục ma túy và quản lý sau giáo dục ma túy

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với PhA Ngọc A.

2. Thời giA chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

3. Công A thị xã L có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thị xã L có quyền kháng nghị quyết định này trong thời giA 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định; người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định này trong thời giA 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã L phối hợp với Công A thị xã L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Cỡ chữ