vanban.org

Điều 33. Xử lý đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về điều trị, cai nghiện ma túy tự nguyện — Nghị định 116/2021/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/07/2026 Sửa đổi, bổ sung: 184/2025/NĐ-CP · 01/07/2025
Chính phủ Ban hành 21/12/2021 Hiệu lực 21/12/2021 Hết hiệu lực toàn bộ 38.941 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 4 năm
Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy · 116/2021/NĐ-CP
01/07/2026163/2026/NĐ-CPSửa đổi Đang xem 01/07/2025184/2025/NĐ-CPSửa đổi 21/12/2021Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 116/2021/NĐ-CP › Chương IV › Mục 1 › Điều 33
Đọc toàn văn

Điều 33. Xử lý đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về điều trị, cai nghiện ma túy tự nguyện

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Trưởng Công an cấp xã lập biên bản hành vi vi phạm theo Mẫu số 27 Phụ lục II Nghị định này để làm căn cứ lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau:

a) Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện;

b) Người đã có quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng mà không thực hiện cai nghiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy;

c) Người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện;

d) Người nghiện ma túy không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị khi đăng ký điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

2. Hồ sơ, trình tự đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương V Nghị định này.