- Tranh chấp gì? "Lò Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:11/QĐ-TA | Nghĩa Lộ, ngày 11 tháng 01 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Phú
2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thúy Ngân
Ngày 11/01/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 08/QĐ-TA ngày 04/01/2023 đối với:
Họ và tên: Lò Văn T Giới tính: Nam
Sinh ngày 10/8/1983
Số CCCD/CMND/Hộ chiếu: 015083005963, cấp ngày 07/01/2022. Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ Công an.
Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 3/12
Nguyên quán: Thị xã N, tỉnh Yên Bái.
ĐKHKTT và chỗ ở: Bản V, xã S, thị xã N, tỉnh Yên Bái.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Tiền án; tiền sự: Không
Con ông Lò Văn P và bà Sa Thị S
“Vắng mặt tại phiên họp”.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hà Văn Tuấn - Phó trưởng Phòng Lao động Thương binh & Xã hội thị xã Nghĩa Lộ.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ: Ông Nguyễn Văn Giỏi
- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Lò Văn T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2018. Ngày 01/12/2022 Công an xã S phối hợp với Trạm y tế xã N xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của T cho kết quả dương tính với ma túy, loại Heroine. Ngày 08/12/2022 Công an xã S ra Thông báo số 03/TB-CAX về tình trạng nghiện ma túy; ngày 20/12/2022 Chủ tịch UBND xã S ban hành Đề nghị số 12/ĐN-CNBB xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Ngày 30/12/2022, Phòng Lao động -Thương binh và xã hội thị xã Nghĩa Lộ, có Văn bản số: 535/ĐN-CNBB chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại biên bản ghi lời khai cùng ngày 01/12/2022, T khai nhận sử dụng ma túy từ năm 2018, loại ma túy mà Tám thường xuyên sử dụng là Heroine, bằng hình thức hít vào cơ thể.
Tại phiên họp: Đại diện Phòng Lao động -Thương binh và xã hội thị xã Nghĩa Lộ đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng.
Kiểm sát viên có ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đề nghị thời gian đưa đi cai nghiện theo ý kiến của Đại diện phòng LĐTB & XH thị xã N.
XÉT THẤY:
Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp cho Lò Văn T hợp lệ, nhưng tại phiên họp T vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014, Tòa án tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T đã bảo đảm tính hợp pháp và đầy đủ, theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Lò Văn T có nơi cư trú ổn định, sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018. Mặc dù đã được UBND xã S áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép ma túy nhưng T vẫn không từ bỏ được ma túy. Sau khi vi phạm T đã được nhận được Thông báo về tình trạng nghiện, tạo điều kiện để cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện bằng các chất dạng thuốc thay thế nhưng không đăng ký. Như vậy, Lò Văn T đã vi phạm khoản 5 Điều 5 của Luật phòng chống ma túy, việc Công an xã S lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021.
Về nhân thân: Lò Văn T là người sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018, không có ý thức tự rèn luyện để từ bỏ ma túy thể hiện là người có nhân không tốt.
Tuy nhiên, trong quá trình thu thập chứng cứ để lập hồ sơ T đã thành khẩn khai báo hành vi vi phạm của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính cần xem xét áp dụng đối với người bị đề nghị.
Với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính tự nguyện khai báo và nhân thân như trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian nhất định là cần thiết, đồng thời tạo điều kiện cho T cai nghiện ma túy có kết quả, trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Ý kiến của Đại diện Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội và ý kiến của Kiểm sát viên nhất trí đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
- Căn cứ các Điều 95, 96, 105, 110 và khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ khoản 2 Điều 19, Điều 22 và Điều 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;
- Căn cứ Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày Lò Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Địa chỉ chấp hành Quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
3. Lò Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng LĐ-TBXH thị xã N có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng LĐ-TBXH thị xã N phối hợp với Công an thị xã N thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái; - VKSND thị xã Nghĩa Lộ; - Trưởng Công an thị xã Nghĩa Lộ; - Trưởng phòng LĐ-TBXH thị xã Nghĩa Lộ; - UBND xã S; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Hoàng Thị Phú |