- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "tuyên vô hiệu hợp đồng lao động"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 về tranh chấp lao động.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/LĐ-ST Ngày: 30-12-2024 V/v tranh chấp tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Minh Hiếu –Ủy viên ban thường vụ Liên đoàn Lao động huyện Cần Giuộc;
2. Ông Đặng Văn Vững- Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-LĐ ngày 23 tháng 9 năm 2024 về việc: “Tranh chấp tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1993, cư trú: 907, khu phố B, Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1, địa chỉ: Đường số C, khu công nghiệp L, huyện C, tỉnh Long An.(vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm: 1997, địa chỉ: I, khu phố B, Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng)
3.2. Bảo hiểm xã hội tỉnh L, địa chỉ: Số H, tuyến tránh, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An. (có văn bản xin vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 08/7/2024, và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 10/02/1997 chưa đủ tuổi đi xin việc làm nên bà T mượn giấy chứng minh nhân dân của chị ruột là bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 21/6/1993 để ký kết hợp đồng lao động tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 (viết tắt là Công ty TNHH T1). Bà T được Công ty TNHH T1 đóng bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm số 8012002996 do Bảo hiểm xã hội tỉnh L cấp từ tháng 3/2012 đến tháng 4/2014.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên C (viết tắt là Công ty TNHH MTV C). Công ty TNHH MTV C đã đóng bảo hiểm từ tháng 06/2012 đến tháng 04/2014 cho bà D theo sổ bảo hiểm số 8012016125 do Bảo hiểm xã hội tỉnh L cấp.
Đến nay, khi bà D làm thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm thì được cơ quan bảo hiểm xã hội trả lời là bà D còn một sổ bảo hiểm xã hội số 8012002996 do Bảo hiểm xã hội tỉnh L cấp từ tháng 3/2012 đến tháng 4/2014. Cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết được chế độ bảo hiểm cho bà D.
Vì vậy bà D đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu quan hệ lao động giữa bà Nguyễn Thị Ngọc D với Công ty TNHH T1 trong khoảng thời gian từ tháng 3/2012 đến tháng 4/2014 theo ghi nhận của sổ bảo hiểm xã hội số 8012002996 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D do bảo hiểm xã hội tỉnh L; không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D thống nhất để bà Nguyễn Thị Ngọc T được hưởng quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của bà T tại sổ bảo hiểm xã hội số 8012002996, tham gia từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D.
Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có ý kiến liên quan đến nội dung giải quyết vụ án dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Tháng 3/2012, bà T do không đủ tuổi đi làm cho Doanh nghiệp nên có sử dụng hồ sơ cá nhân của bà Nguyễn Thị Ngọc D để đi làm tại Công ty TNHH T1. Trong hồ sơ xin việc thì tên là Nguyễn Thị Ngọc D nhưng hình ảnh trên hồ sơ của của bà T. Bà T được Công ty TNHH T1 đóng bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm số 8012002996 do Bảo hiểm xã hội tỉnh L cấp từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh L có ý kiến: Căn cứ hồ sơ, dữ liệu quản lý thu, sổ, thẻ và dữ liệu chi trả chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, quá trình tham gia BHXH, BHTN của bà Nguyễn Thị Ngọc D theo số số BHXH số 8012016125 và số 8012002996 được thể hiện tại phụ lục Bản ghi quá trình đóng BHXH, BHTN kèm theo.
Căn cứ Quy trình thu BHXH, BHTN, BHTNHLĐ, BNN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT, hợp đồng lao động không được quy định là thành phần hồ sơ nộp kèm khi đơn vị sử dụng lao động đăng ký tham gia BHXH, BHTN, BHTNHLĐ, BNN cho người lao động, Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An không có tài liệu để cung cấp.
Bảo hiểm xã hội tỉnh L đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình tham gia tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đối với vụ việc trên.
Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, bà D giữ nguyên Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng lao động được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T (nhưng trên hợp đồng lao động ghi tên là bà Nguyễn Thị Ngọc D) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 trong thời gian từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014; không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu; rút yêu cầu khởi kiện Huỷ sổ Bảo hiểm xã hội số 8012002996 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D do Bảo hiểm xã hội tỉnh L cấp, từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014. Bà D tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý vụ án cũng như giải quyết vụ án, Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật hướng dẫn có liên quan. Việc chấp hành pháp luật của các người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc D tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T (nhưng trên hợp đồng lao động ghi tên là bà Nguyễn Thị Ngọc D) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 trong thời gian từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014.
Cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền có trách nhiệm điều chỉnh tên Nguyễn Thị Ngọc D theo sổ bảo hiểm xã hội mã số 8012002996 thành tên Nguyễn Thị Ngọc T để bà T được hưởng chế độ bảo hiểm theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012002996; bà Nguyễn Thị Ngọc D hưởng chế độ bảo hiểm theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012016125.
Bà Nguyễn Thị Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc D được quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm để thực hiện thủ tục điều chỉnh thông tin đóng bảo hiểm xã hội nêu trên theo quy định.
Bà D tự nguyện chịu án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc D yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng lao động. Căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 32, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần hai vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành phiên tòa mà vắng mặt các đương sự này.
Về nội dung yêu cầu:
Căn cứ vào hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội của Công ty TNHH T1 cho bà Nguyễn Thị Ngọc D do Bảo hiểm xã hội tỉnh L cung cấp có nội dung bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 21/6/1993, số chứng minh thư số xxxxxxxxx, Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An cấp sổ bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị Ngọc D có mã số sổ 8012002996, tham gia từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014.
Căn cứ vào Sổ bảo hiểm xã hội số 8012016125 thì bà D đăng ký đóng BHXH, BHYT, BHTN, BH TNLĐ-BNN, tham gia từ tháng 06/2012 đến tháng 04/2014;
Công ty TNHH T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng có liên quan, nhưng Công ty TNHH T1 không có ý kiến gửi đến Tòa để thể hiện ý kiến của mình qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công ty TNHH T1 đã từ bỏ quyền chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Qua chứng cứ nêu trên cơ sở xác định lời trình bày của bà T, bà D về việc bà T mượn chứng minh nhân dân của bà D để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH T1 là phù hợp. Đối tượng lao động thực sự lao động trong giai đoạn này tại Công ty TNHH T1 là bà T chứ không phải là bà D. Bà T đã vi phạm quy tắc, nghĩa vụ của người lao động theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002 và Điều 8 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ; Công ty TNHH T1 chưa thực hiện đúng quy định về việc tuyển dụng người lao động theo Điều 8 Bộ luật Lao động năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002 khi sử dụng người lao động không đúng đối tượng lao động. Đây là hợp đồng vô hiệu toàn bộ nên yêu cầu bà D được chấp nhận.
Xử lý hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Do công ty TNHH T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc D không có yêu cầu gì liên quan đến quyền lợi trong hợp đồng nên không xem xét.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D thống nhất để bà Nguyễn Thị Ngọc T được hưởng quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của bà T tại sổ bảo hiểm xã hội số 8012002996, tham gia từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D nên Cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền có trách nhiệm điều chỉnh tên Nguyễn Thị Ngọc D theo sổ bảo hiểm xã hội mã số 8012002996 thành tên Nguyễn Thị Ngọc T để bà T được hưởng chế độ bảo hiểm theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012002996; bà Nguyễn Thị Ngọc D hưởng chế độ bảo hiểm theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012016125
Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 32; các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 227, Điều 244, Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 117, Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 7, Điều 8, Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002;
Áp dụng Điều 15, Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 7, Điều 8 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/04/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về việc làm;
Căn cứ Điều 10 Nghị định 45/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;
Áp dụng Điều 19, 21, 23 và Điều 96 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
Áp dụng Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 về tranh chấp lao động.
Tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T (nhưng trên hợp đồng lao động ghi tên là bà Nguyễn Thị Ngọc D) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 trong thời gian từ tháng 03/2012 đến tháng 4/2014
2. Cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền có trách nhiệm điều chỉnh tên Nguyễn Thị Ngọc D theo sổ bảo hiểm xã hội mã số 8012002996 thành tên Nguyễn Thị Ngọc T để bà T được hưởng chế độ bảo hiểm theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012002996; bà Nguyễn Thị Ngọc D hưởng chế độ bảo hiểm theo sổ bảo hiểm xã hội số 8012016125.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D và bà Nguyễn Thị Ngọc T được quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm để thực hiện thủ tục điều chỉnh thông tin đóng bảo hiểm xã hội nêu trên theo quy định.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc D tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm. Tạm ứng án phí, bà D đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013308 ngày 18/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, chuyển sang án phí.
4. Án sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hánh án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Cần Giuộc; - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc; - Đương sự; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Vân |