- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B.
- Căn cứ chính? Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2018/QĐDS-ST Ngày: 05-01-2018 V/v “Tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Minh Nghĩa – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Thanh Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thúy Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàumở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số04/2017/TLST-LĐ ngày 30 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp số 05/2017/QĐPH-ST ngày 15 tháng 11 năm 2017; Quyết định hoãn phiên họp số 04/2017/QĐHPH-ST ngày 08 tháng 12 năm 2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B;
Địa chỉ: Khu Trung tâm hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Anh T, là người đại diện theo pháp luật của người yêu cầu (Trưởng Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Dịch vụ Năng lượng G;
Địa chỉ: Khu công nghiệp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Goh Yang S, là người đại diện theo pháp luật (Tổng Giám đốc Công ty).
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bu yêu cầu Tòa án tuyên bố Thỏa ước lao động tập thể ký ngày 15 tháng 9 năm 2017 giữa Công ty TNHH Dịch vụ Năng lượng G với tập thể người lao động là vô hiệu.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Thành nhận định:
Về tố tụng:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B cung cấp, xác định đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc Tòa án nhân dân huyện Tân Thành thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 33, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với Công ty TNHH Dịch vụ Năng lượng G vắng mặt tại phiên họp, do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định.
Về nội dung giải quyết:
Nhận thấy, bản Thỏa ước lao động tập thể ký ngày 15 tháng 9 năm 2017 giữa Công ty TNHH Dịch vụ Năng lượng G với tập thể người lao động được xác lập bởi người có thẩm quyền theo đúng quy định tại Điều 83 của Bộ luật lao động.
Tuy nhiên, tại bản Thỏa ước lao động tập thể nêu trên có một phần nội dung thỏa thuận là không đúng và không có lợi hơn theo quy định của pháp luật, cụ thể:
+ Tại khoản 2 Điều 9 của bản Thỏa ước ghi nhận “Trong trường hợp những ngày nghỉ nói trên trùng với ngày nghỉ hàng tuần, Người lao động được nghỉ bù vào ngày làm việc kế tiếp hoặc theo sự sắp xếp của Công ty” là không đúng với quy định tại khoản 3 Điều 115 của Bộ luật lao động.
+ Tại điểm c khoản 2 Điều 10 của bản Thỏa ước ghi nhận“Người lao động có thể chọn thời gian nghỉ bù tương ứng thay vì hưởng phụ cấp” là không đúng với quy định tại Điều 97 của Bộ luật lao động.
+ Tại khoản 3, khoản 5 Điều 11 của bản Thỏa ước ghi nhận “Những ngày nghỉ phép chưa nghỉ còn lại phải được sử dụng hết trước ngày 31/12 của năm, nếu không sẽ tự động bị cắt bỏ”và “ Công ty không thanh toán cho những ngày phép chưa sử dụng ngoại trừ trường hợp chấm dứt Hợp đồng lao động”là không đúng với quy định tại Điều 114 của Bộ luật lao động.
+ Tại khoản 9 Điều 15 của bản Thỏa ước ghi nhận“Người lao động nữ sinh con phải là người đã đóng bảo hiểm xã hội đủ sáu tháng hoặc hơn trong vòng mười hai tháng trước ngày sinh con. Nếu không Người lao động này sẽ không được hưởng các quyền lợi từ Bảo hiểm xã hội” là chưa đảm bảo được quyền lợi của người lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.
+ Tại khoản 7 Điều 17 của bản Thỏa ước ghi nhận về các trường hợp nghỉ được coi là có lý do chính đáng như bị thiên tai, hỏa hoạn và phải“có xác nhận của UBND phường, xã..” là khi đúng theo quy định tại Điều 13 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ lao động Thương binh và Xã hội.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B và tuyên bố bản Thỏa ước lao động tập thể ký ngày 15/9/2017 là vô hiệu một phần.
Về lệ phí: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B không phải nộp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 73, 74, 78, 79, 80 của Bộ luật lao động; các Điều 33, 35, 39 và khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận yêu cầu của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B.
1. Tuyên bố bản Thỏa ước lao động tập thể ký ngày 15 tháng 9 năm 2017 giữa Công ty TNHH Dịch vụ Năng lượng G với tập thể người lao động là vô hiệu một phần, cụ thể tại những nội dung sau:
- “Trong trường hợp những ngày nghỉ nói trên trùng với ngày nghỉ hàng tuần, Người lao động được nghỉ bù vào ngày làm việc kế tiếp hoặc theo sự sắp xếp của Công ty” ghi nhận tại khoản 2 Điều 9;
- “Người lao động có thể chọn thời gian nghỉ bù tương ứng thay vì hưởng phụ cấp” ghi nhận tại điểm c khoản 2 Điều 10;
- “Những ngày nghỉ phép chưa nghỉ còn lại phải được sử dụng hết trước ngày 31/12 của năm, nếu không sẽ tự động bị cắt bỏ” và “ Công ty không thanh toán cho những ngày phép chưa sử dụng ngoại trừ trường hợp chấm dứt Hợp đồng lao động” ghi nhận tại khoản 3, khoản 5 Điều 11;
- “Người lao động nữ sinh con phải là người đã đóng bảo hiểm xã hội đủ sáu tháng hoặc hơn trong vòng mười hai tháng trước ngày sinh con. Nếu không Người lao động này sẽ không được hưởng các quyền lợi từ Bảo hiểm xã hội” ghi nhận tại khoản 9 Điều 15;
- “có xác nhận của UBND phường, xã..” ghi nhận tại khoản 7 Điều 17.
2. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên ghi trong Thoả ước tương ứng với phần bị tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận hợp pháp trong hợp đồng lao động.
3. Về lệ phí: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh B không phải nộp.
4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | (đã ký) Nguyễn Minh Nghĩa |