vanban.org

Điều 7. Phần mềm ứng dụng Online Banking — Văn bản hợp nhất 25/VBHN-NHNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 20/01/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Văn bản hợp nhất 25/VBHN-NHNN › Chương II › Mục 1 › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Phần mềm ứng dụng Online Banking

1. Các yêu cầu về an toàn, bảo mật phải được xác định trước khi phát triển phần mềm và tổ chức, triển khai trong quá trình phát triển (phân tích, thiết kế, xây dựng, kiểm thử), vận hành chính thức và duy trì hoạt động phần mềm. Các hồ sơ, tài liệu về an toàn, bảo mật của phần mềm phải được hệ thống hóa, lưu trữ, cập nhật đồng bộ khi hệ thống có thay đổi và kiểm soát chặt chẽ, hạn chế tiếp cận.

2. Đơn vị phải kiểm soát mã nguồn phần mềm với các yêu cầu tối thiểu:

a) Đối với mã nguồn phần mềm do đơn vị tự phát triển:

(i) Định kỳ hoặc khi có thay đổi phần mềm ứng dụng, đơn vị phải kiểm tra mã nguồn nhằm loại trừ các đoạn mã độc hại, các lỗ hổng bảo mật. Nhân sự thực hiện kiểm tra phải độc lập với nhân sự phát triển mã nguồn phần mềm;

(ii) Chỉ định cụ thể các cá nhân chịu trách nhiệm quản lý mã nguồn của phần mềm ứng dụng Online Banking;

(iii) Mã nguồn phải được lưu trữ an toàn tại ít nhất hai địa điểm tách biệt về địa lý và có biện pháp bảo vệ tính toàn vẹn của mã nguồn.

b) Trường hợp mã nguồn phần mềm thuê ngoài gia công (outsourced software):

(i) Đơn vị phải yêu cầu bên cung cấp ký cam kết mã nguồn phần mềm là hợp pháp, không giả mạo; cam kết thực hiện các thoả thuận về việc chỉnh sửa mã nguồn khi bảo hành, bảo trì phần mềm;

(ii) Trường hợp được bàn giao mã nguồn, trước khi nghiệm thu bàn giao mã nguồn phần mềm, đơn vị yêu cầu bên cung cấp phải kiểm tra, xử lý, khắc phục các lỗ hổng bảo mật trong mã nguồn. Sau khi mã nguồn được bàn giao, đơn vị thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này;

(iii) Trường hợp không được bàn giao mã nguồn, khi ký nghiệm thu sản phẩm, đơn vị phải yêu cầu bên cung cấp thực hiện dò quét, loại bỏ các đoạn mã độc hại và ký cam kết không có các đoạn mã độc hại trong phần mềm ứng dụng.

3. Phần mềm ứng dụng Online Banking phải được kiểm tra, thử nghiệm trước khi vận hành chính thức đáp ứng các yêu cầu tối thiểu sau:

a) Lập và phê duyệt kế hoạch, kịch bản thử nghiệm phần mềm ứng dụng Online Banking, trong đó nêu rõ các điều kiện về tính an toàn, bảo mật phải được đáp ứng;

b) Phát hiện và loại trừ các lỗi, các gian lận có thể xảy ra khi nhập số liệu đầu vào;

c)[6] Đánh giá, dò quét phát hiện lỗ hổng, điểm yếu về mặt kỹ thuật. Đánh giá khả năng phòng, chống các lỗ hổng, điểm yếu, kiểu tấn công bảo đảm tối thiểu các yêu cầu sau:

(i) Đối với phần mềm ứng dụng Online Banking cung cấp qua nền tảng web, phải phòng, chống 10 lỗ hổng phổ biến nhất được công bố bởi tổ chức OWASP (OWASP Top Ten).

(ii) Đối với phần mềm ứng dụng Mobile Banking, đáp ứng tối thiểu các yêu cầu về an toàn bảo mật ứng dụng di động do tổ chức OWASP công bố (OWASP Mobile Application Security).

(iii) Phiên bản OWASP Top Ten hoặc OWASP Mobile Application Security áp dụng là phiên bản mới nhất hoặc phiên bản gần nhất với phiên bản được ban hành trong vòng 06 tháng;

d) Ghi lại các lỗi và quá trình xử lý lỗi, đặc biệt là các lỗi về an toàn, bảo mật trong các báo cáo về kiểm tra thử nghiệm;

đ) Kiểm tra thử nghiệm các tính năng an toàn, bảo mật phải được thực hiện trên các trình duyệt phổ biến (áp dụng đối với phần mềm ứng dụng Online Banking cung cấp qua nền tảng web) và các phần mềm hệ điều hành của thiết bị di động (áp dụng đối với phần mềm ứng dụng Mobile Banking); có cơ chế kiểm tra, thông báo tức thời cho khách hàng khi sử dụng ứng dụng trên các trình duyệt, phiên bản phần mềm hệ điều hành của thiết bị di động đã được kiểm tra và thử nghiệm an toàn.

4. Trước khi triển khai phần mềm ứng dụng Online Banking mới, đơn vị phải đánh giá những rủi ro của quá trình triển khai đối với hoạt động nghiệp vụ, các hệ thống công nghệ thông tin liên quan và lập, triển khai các phương án hạn chế, khắc phục rủi ro.

5. Đơn vị thực hiện quản lý thay đổi phiên bản phần mềm ứng dụng Online Banking đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Xây dựng tài liệu phân tích đánh giá tác động của việc thay đổi đối với hệ thống hiện tại, các hệ thống có liên quan khác của đơn vị và được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện;

b) Các phiên bản phần mềm bao gồm cả mã nguồn do đơn vị tự phát phiển hoặc do bên cung cấp bàn giao cần được quản lý tập trung, lưu trữ, bảo mật và có cơ chế phân quyền cho từng thành viên, ghi nhật ký trong việc thao tác với các tập tin;

c) Thông tin về các phiên bản (thời gian cập nhật, người cập nhật, hướng dẫn cập nhật và các thông tin liên quan khác của phiên bản) phải được lưu trữ;

d) Việc nâng cấp phiên bản phải căn cứ trên kết quả thử nghiệm và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

6. Các chức năng bắt buộc của phần mềm ứng dụng Online Banking:

a) Toàn bộ dữ liệu khi truyền trên môi trường mạng hoặc dữ liệu trao đổi giữa phần mềm ứng dụng Online Banking với các trang thiết bị liên quan được áp dụng cơ chế mã hóa điểm đầu đến điểm cuối;

b) Bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu giao dịch, mọi sửa đổi trái phép phải được phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn hoặc có biện pháp xử lý phù hợp để bảo đảm sự chính xác của dữ liệu giao dịch trong quá trình thực hiện giao dịch, lưu trữ dữ liệu;

c) Kiểm soát phiên giao dịch: hệ thống có cơ chế tự động ngắt phiên giao dịch khi người sử dụng không thao tác trong một khoảng thời gian do đơn vị quy định hoặc áp dụng các biện pháp bảo vệ khác;

d) Có chức năng che giấu đối với việc hiển thị các mã khóa bí mật, mã PIN dùng để đăng nhập vào hệ thống;

đ) Có chức năng chống đăng nhập tự động;

e) Trong trường hợp tài khoản giao dịch điện tử quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư này sử dụng mã PIN hoặc mã khóa bí mật làm hình thức xác nhận, phần mềm ứng dụng Online Banking phải có các chức năng kiểm soát mã PIN và mã khóa bí mật:

(i) Yêu cầu khách hàng thay đổi mã PIN hoặc mã khóa bí mật trong trường hợp khách hàng được cấp phát mã PIN hoặc mã khóa bí mật mặc định lần đầu;

(ii) Thông báo cho khách hàng khi mã PIN hoặc mã khóa bí mật sắp hết hiệu lực sử dụng;

(iii) Hủy hiệu lực của mã PIN hoặc mã khóa bí mật khi hết hạn sử dụng; yêu cầu khách hàng thay đổi mã PIN hoặc mã khóa bí mật đã hết hạn sử dụng khi khách hàng sử dụng mã PIN hoặc mã khóa bí mật để đăng nhập;

(iv) Hủy hiệu lực của mã PIN hoặc mã khóa bí mật trong trường hợp bị nhập sai mã PIN hoặc mã khóa bí mật liên tiếp quá số lần do đơn vị quy định (nhưng không quá 10 lần) và thông báo cho khách hàng;

(v) Đơn vị chỉ cấp phát lại mã PIN hoặc mã khóa bí mật khi khách hàng yêu cầu và phải kiểm tra, nhận biết khách hàng trước khi thực hiện cấp phát lại, bảo đảm chống gian lận, giả mạo.

g)[7] Đối với khách hàng là tổ chức, phần mềm ứng dụng được thiết kế để bảo đảm việc thực hiện giao dịch thanh toán trực tuyến (ngoại trừ thanh toán thẻ trực tuyến qua đơn vị chấp nhận thanh toán) bao gồm tối thiểu hai bước: tạo lập và phê duyệt giao dịch.

Trường hợp khách hàng là hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ áp dụng chế độ kế toán đơn giản, việc thực hiện giao dịch không bắt buộc tách biệt hai bước tạo lập và phê duyệt giao dịch;

h) Có chức năng thông báo việc đăng nhập lần đầu phần mềm ứng dụng Online Banking hoặc việc đăng nhập phần mềm ứng dụng Online Banking trên thiết bị khác với thiết bị thực hiện đăng nhập phần mềm ứng dụng Online Banking lần gần nhất qua SMS hoặc các kênh khác do khách hàng đăng ký (điện thoại, thư điện tử…), ngoại trừ trường hợp khách hàng tổ chức: đăng nhập trên các thiết bị đã đăng ký sử dụng dịch vụ; hoặc đăng nhập sử dụng tối thiểu một trong các hình thức xác nhận quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 7, khoản 8, khoản 9 Điều 11 Thông tư này.

7. Phần mềm ứng dụng Online Banking phải có chức năng lưu trữ trực tuyến thông tin về thiết bị thực hiện các giao dịch của khách hàng, nhật ký (log) giao dịch, nhật ký xác nhận giao dịch tối thiểu trong vòng 03 tháng và sao lưu tối thiểu 01 năm, trong đó gồm:

a) Thông tin định danh về thiết bị:

(i) Đối với thiết bị di động: thông tin để định danh duy nhất thiết bị (ví dụ như: số IMEI hoặc Serial hoặc WLAN MAC hoặc Android ID hoặc thông tin định danh khác);

(ii) Đối với máy tính: thông tin để định danh duy nhất máy tính (ví dụ như địa chỉ MAC hoặc kết hợp các thông tin liên quan đến máy tính để có thể định danh duy nhất máy tính).

b) Nhật ký (log) giao dịch tối thiểu gồm: mã giao dịch, mã khách hàng, thời gian khởi tạo giao dịch, loại giao dịch, giá trị giao dịch (nếu có);

c) Nhật ký (log) xác nhận giao dịch tối thiểu gồm: hình thức xác nhận giao dịch, thời gian xác nhận giao dịch. Trường hợp xác nhận giao dịch bằng hình thức khớp đúng thông tin sinh trắc học, đơn vị thực hiện lưu trữ thông tin sinh trắc học của khách hàng khi thực hiện giao dịch đối với tối thiểu 10 giao dịch gần nhất của khách hàng đó.

8. Các yêu cầu đối với phương thức xử lý xuyên suốt:

a) Đơn vị chỉ cung cấp dịch vụ Online Banking bằng phương thức xử lý xuyên suốt cho khách hàng là tổ chức. Đơn vị có trách nhiệm lựa chọn, thẩm định, giám sát, quản lý và có thỏa thuận với khách hàng khi cung cấp dịch vụ Online Banking bằng phương thức xử lý xuyên suốt;

b)[8] Phần mềm ứng dụng Online Banking phải có chức năng xác thực kết nối với phần mềm của khách hàng tổ chức để bảo đảm an toàn, bảo mật, chống gian lận, giả mạo theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế hoặc Việt Nam;

9. Tổ chức phát hành thẻ có cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến sử dụng thẻ ngân hàng, phải có phần mềm ứng dụng Online Banking có tối thiểu các tính năng sau:

a) Cho phép hoặc không cho phép thanh toán trực tuyến;

b) Thiết lập hạn mức thanh toán trực tuyến sử dụng thẻ ngân hàng trong ngày;

c) Cho phép hoặc không cho phép thanh toán ở nước ngoài tại thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán, máy giao dịch tự động;

d) Cho phép khách hàng đăng ký lựa chọn việc chủ động thực hiện xác nhận hoặc đồng ý để tổ chức phát hành thẻ thực hiện xác nhận đối với tất cả hoặc một phần giao dịch thanh toán trực tuyến sử dụng thẻ ngân hàng (giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến) trong trường hợp sử dụng hình thức xác nhận theo quy định tại khoản 10 Điều 11 Thông tư này.

10. Phần mềm ứng dụng Online Banking phải có chức năng thông báo cho khách hàng về các giao dịch phát sinh qua tin nhắn SMS hoặc thư điện tử hoặc phần mềm ứng dụng Mobile Banking hoặc các kênh liên lạc khác do khách hàng đăng ký.