vanban.org

Điều 14. Quản lý lỗ hổng, điểm yếu về mặt kỹ thuật — Văn bản hợp nhất 25/VBHN-NHNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 20/01/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Văn bản hợp nhất 25/VBHN-NHNN › Chương II › Mục 3 › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Quản lý lỗ hổng, điểm yếu về mặt kỹ thuật

Đơn vị phải thực hiện quản lý các lỗ hổng, điểm yếu của hệ thống Online Banking với các nội dung cơ bản sau:

1. Có biện pháp phòng, chống, dò tìm phát hiện các thay đổi trái phép đối với phần mềm ứng dụng Online Banking.

2. Thiết lập cơ chế phát hiện, phòng chống xâm nhập, tấn công mạng vào hệ thống Online Banking.

3. Phối hợp với các đơn vị quản lý nhà nước, các đối tác công nghệ thông tin kịp thời nắm bắt các sự cố, tình huống mất an toàn, bảo mật thông tin để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

4. Cập nhật thông tin các lỗ hổng bảo mật được công bố có liên quan đến phần mềm hệ thống, hệ quản trị cơ sở dữ liệu và phần mềm ứng dụng theo thông tin từ Hệ thống tính điểm lỗ hổng phổ biến (Common Vulnerability Scoring System version 4 - CVSS v4 hoặc tương đương).

5. Thực hiện dò quét lỗ hổng, điểm yếu của hệ thống Online Banking tối thiểu mỗi năm một lần hoặc khi tiếp nhận được những thông tin liên quan đến lỗ hổng, điểm yếu mới. Đối với thành phần hệ thống kết nối trực tiếp với Internet thực hiện dò quét lỗ hổng, điểm yếu tối thiểu 03 tháng một lần. Đánh giá mức độ tác động, rủi ro của từng lỗ hổng, điểm yếu về mặt kỹ thuật được phát hiện của hệ thống và đưa ra phương án, kế hoạch xử lý.

6. Thực hiện triển khai cập nhật các bản vá bảo mật hoặc các biện pháp phòng ngừa kịp thời căn cứ theo đánh giá mức độ tác động, rủi ro:

a) Đối với lỗ hổng bảo mật được đánh giá ở mức nghiêm trọng: trong vòng 01 ngày đối với thành phần hệ thống kết nối trực tiếp với Internet; trong vòng 01 tháng đối với các thành phần còn lại sau khi lỗ hổng được công bố hoặc phát hiện.

b) Đối với lỗ hổng bảo mật được đánh giá ở mức cao: trong vòng 01 ngày đối với thành phần hệ thống kết nối trực tiếp với Internet; trong vòng 02 tháng đối với các thành phần còn lại sau khi lỗ hổng được công bố hoặc phát hiện.

c) Đối với lỗ hổng bảo mật được đánh giá ở mức trung bình hoặc thấp: thực hiện trong khoảng thời gian do đơn vị tự quyết định.