Điều 4. Tổ chức thực hiện
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức xác định tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản; thành lập Hội đồng thẩm định có sự tham gia của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương (hoặc Bộ Xây dựng), đại diện Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có khoáng sản khai thác để thẩm định kết quả xác định tiền chi phí thăm dò mà tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải hoàn trả cho Nhà nước trước khi thông báo bằng văn bản; theo dõi, đôn đốc các tổ chức, cá nhân hoàn trả chi phí thăm dò theo quy định quy định của pháp luật về khoáng sản.
2. Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có trách nhiệm kê khai, báo cáo đầy đủ số liệu, thông tin về việc sử dụng kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước phục vụ hoạt động khai thác khoáng sản của mình theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường; thực hiện hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản cho Nhà nước theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Thông tư này.
Trường hợp tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản không kê khai, báo cáo đầy đủ số liệu, thông tin về việc sử dụng kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước hoặc không hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản theo quy định tại Thông tư này sẽ bị xử phạt hành chính hoặc thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản.
3. Quản lý, sử dụng và quyết toán tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản
Đơn vị xác định tiền hoàn trả phải mở tài khoản thu tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản tại Kho bạc nhà nước. Tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản thu được phải gửi vào tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước và được quản lý, sử dụng như sau:
3.1. Đơn vị xác định tiền hoàn trả được trích để lại 5% số tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản thực thu được trước khi nộp vào ngân sách nhà nước, để chi xác định tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản, cụ thể:
a) Chi phí khảo sát, thu thập và xử lý số liệu, thông tin để xác định tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản, bao gồm cả tiền lương, tiền công theo chế độ hiện hành cho lao động trực tiếp (không bao gồm chi phí tiền lương cho cán bộ công chức đã được hưởng tiền lương theo chế độ quy định hiện hành), tiền công tác phí, lưu trú, thuê xe, bồi dưỡng làm thêm giờ;
b) Chi hội nghị, hội thảo, họp kỹ thuật để xác định tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản;
c) Chi phí mua sắm thiết bị, phương tiện, vật tư văn phòng phẩm;
d) Chi phí kiểm tra, thẩm định kết quả xác định tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản;
đ) Các khoản chi khác liên quan trực tiếp đến việc tổ chức xác định giá trị tiền sử dụng số liệu, thông tin về khoáng sản;
3.2. Tổng số tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản thu được sau khi trừ số tiền được trích để lại theo tỷ lệ quy định tại điểm 3.1 khoản 3 Điều này, số còn lại (95%), Đơn vị xác định tiền hoàn trả phải nộp vào ngân sách nhà nước chậm nhất sau 7 ngày, kể từ ngày thu được tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản; theo chương, loại, khoản, mục tương ứng của Mục lục Ngân sách nhà nước hiện hành.
3.3. Đơn vị xác định tiền hoàn trả có trách nhiệm quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức xác định giá trị tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản theo đúng chế độ và quy định hiện hành; trường hợp sử dụng không hết thì được chuyển sang năm sau để tiếp tục chi theo quy định hiện hành
4. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký. Thông tư này thay thế Thông tư Liên Tịch số 46/TTLT-BTC-BCN ngày 21 tháng 5 năm 2002 của liên Bộ Tài chính - Bộ Công nghiệp hướng dẫn phương pháp xác định, phương thức, thủ tục thanh toán tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả khảo sát, thăm dò khoáng sản của Nhà nước.
5. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các tổ chức, cá nhân có liên quan phản ánh về Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường để nghiên cứu, giải quyết.