Điều 1. Quy định chung
1. Thông tư này hướng dẫn phương pháp xác định giá trị, phương thức, thủ tục thanh toán tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước (sau đây gọi chung là hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản).
2. Tổ chức, cá nhân được phép sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước phục vụ cho khai thác khoáng sản phải hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản theo quy định tại Thông tư này. Việc hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản nhằm hoàn lại một phần vốn từ ngân sách Nhà nước đã đầu tư cho công tác điều tra, thăm dò khoáng sản.
3. Số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản là toàn bộ các số liệu, dữ liệu, bản đồ địa chất khoáng sản đã thu thập và tổng hợp được trong quá trình điều tra, thăm dò các loại khoáng sản ở thể rắn, thể khí, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên (trừ dầu khí và các loại nước thiên nhiên khác) được thể hiện trong các báo cáo kết quả công tác thăm dò.
4. Chi phí thăm dò khoáng sản, bao gồm chi phí các hạng mục công trình địa chất và chi phí khác trong công tác thăm dò.
5. Trữ lượng khoáng sản được sử dụng để xác định tiền hoàn trả chi phí thăm dò khoáng sản, bao gồm các cấp trữ lượng A, B, C1, C2 hoặc các cấp trữ lượng 121, 122 (đối với trữ lượng xác định theo Quyết định số 06/2006/QĐ-BTNMT ngày 7 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Quy định về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn).
6. Việc sử dụng thông tin, số liệu về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản thực hiện theo các quy định của pháp luật về khoáng sản và quy định của Thông tư này.
Các trường hợp sử dụng số liệu vào mục đích nghiên cứu khoa học, đào tạo hoặc xây dựng quy hoạch, chiến lược theo nhiệm vụ của Nhà nước giao thì không phải thanh toán theo quy định của Thông tư này.
7. Các dịch vụ về in ấn, sao chép số liệu thực hiện theo quy định riêng và không thuộc đối tượng điều chỉnh của Thông tư này.