vanban.org

Điều 8. Giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ trong trường hợp đặc biệt — Thông tư liên tịch 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/11/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 26/11/2021 Thay thế: 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP · 11/10/2021
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư liên tịch · 4 phiên bản · 14 năm
Thông tư liên tịch số 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP Quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục giảm thời hạn, miễnchấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại · 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP
Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn việc giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại · 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
26/11/202104/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQPThay thế Đang xem 01/10/2012Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ trong trường hợp đặc biệt

1. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đã lập công, đã quá già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo đã chấp hành được một phần tư thời hạn án phạt thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án, mức giảm mỗi lần cao nhất là một năm, nhưng phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.

2. Người chưa thành niên chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ nếu lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay. Trường hợp đã chấp hành được hai phần năm mức án mà sau khi được xét giảm, thời hạn chấp hành án còn lại không quá một năm thì có thể được giảm hết thời hạn còn lại.