vanban.org

Điều 7. Mức giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ — Thông tư liên tịch 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/11/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 26/11/2021 Thay thế: 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP · 11/10/2021
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư liên tịch · 4 phiên bản · 14 năm
Thông tư liên tịch số 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP Quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục giảm thời hạn, miễnchấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại · 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP
Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn việc giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại · 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
26/11/202104/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQPThay thế Đang xem 01/10/2012Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Mức giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ mỗi năm được xét giảm thời hạn chấp hành án một lần, mỗi lần có thể được giảm từ ba tháng đến chín tháng. Trường hợp trong năm đó, sau khi được giảm thời hạn chấp hành án mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng như lập công mới hoặc bị mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm tiếp nhưng tối đa là hai lần trong một năm.

2. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có thể được giảm nhiều lần nhưng phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành án là một phần hai mức án, đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là người chưa thành niên thì phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành án phạt là hai phần năm mức án.