vanban.org

Điều 14. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu — Thông tư 88/2025/TT-BCA

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/10/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Công an Ban hành 17/09/2025 Hiệu lực 01/10/2025 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 88/2025/TT-BCA › Chương II › Mục 3 › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

1. Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư này đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP mà có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội, khoản 1 Điều 14 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP thì khi nghỉ hưu được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,5 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm đối với nam và cao hơn 30 năm đối với nữ, tính đến thời điểm đủ điều kiện nghỉ hưu theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư này đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP mà tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội thì trợ cấp một lần khi nghỉ hưu thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP. Mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu bằng 02 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho mỗi năm đóng cao hơn 35 năm đối với nam, 30 năm đối với nữ, được tính từ sau thời điểm đủ điều kiện nghỉ hưu theo quy định của pháp luật đến thời điểm nghỉ hưu.

Ví dụ 15: đồng chí nam sĩ quan, Thượng tá Hoàng X, Phó Trưởng phòng, Cục C, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1972, tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 10 năm 1993, vào Công an nhân dân tháng 9 năm 2017 (quá trình công tác của đồng chí X đều làm nghề, công việc trong điều kiện bình thường). Đồng chí Hoàng X được giải quyết nghỉ chờ hưu từ ngày 01 tháng 9 năm 2032, hưởng chế độ hưu trí từ 01 tháng 6 năm 2033. Tính đến thời điểm đồng chí X đủ 57 tuổi, đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP (tháng 7 năm 2029), đồng chí X có 35 năm 10 tháng đóng bảo hiểm xã hội; tính đến thời điểm hưởng lương hưu (ngày 01 tháng 6 năm 2033), đồng chí X có 39 năm 08 tháng đóng bảo hiểm xã hội. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của đồng chí Hoàng X được tính như sau:

- Trợ cấp một lần cho thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm tính đến thời điểm đủ điều kiện nghỉ hưu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP (tháng 7 năm 2029 đủ 57 tuổi), là 10 tháng (được làm tròn là 01 năm) là: 01 năm x 0,5 lần = 0,5 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;

- Trợ cấp một lần cho thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm, được tính kể từ sau thời điểm đủ điều kiện nghỉ hưu (tháng 7 năm 2029) đến thời điểm nghỉ hưu (ngày 01 tháng 6 năm 2033) là 03 năm 10 tháng (được làm tròn thành 04 năm), là: 04 năm x 02 lần = 08 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;

- Tổng mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của đồng chí X là: 0,5 + 08 = 8,5 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Ví dụ 16: đồng chí nữ sĩ quan, Trung tá Hán Thị Kim L, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1970, tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 7 năm 1993, vào Công an nhân dân từ ngày 01 tháng 4 năm 2015. Đồng chí Hán Thị Kim L được giải quyết nghỉ chờ hưu kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2025, hưởng chế độ hưu trí hằng tháng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 (quá trình công tác đồng chí L có trên 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm). Tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội của đồng chí L là 32 năm 06 tháng. Tính đến thời điểm đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội (tháng 7 năm 2023), đồng chí đã đủ điều kiện nghỉ hưu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP. Do vậy, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của đồng chí L được tính như sau: số năm đóng bảo hiểm cao hơn 30 năm là 02 năm 06 tháng được làm tròn là 2,5 năm; trợ cấp một lần khi nghỉ hưu là 2,5 năm x 02 lần = 05 lần mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Ví dụ 17: đồng chí nam sĩ quan, Đại úy Trần Q, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1969, tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 10 năm 1988, vào Công an nhân dân từ tháng 10 năm 2013. Đồng chí Trần Q được giải quyết nghỉ chờ hưu kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 (hạn tuổi phục vụ cao nhất là 55 tuổi), hưởng chế độ hưu trí hằng tháng kể từ từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Đồng chí Q đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 12 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP. Tính đến thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu (đủ hạn tuổi phục vụ cao nhất - tháng 9 năm 2024), đồng chí có 36 năm đóng bảo hiểm xã hội; tính đến thời điểm nhận lương hưu, đồng chí có 36 năm 09 tháng đóng bảo hiểm xã hội. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của đồng chí Trần Q được tính như sau:

- Trợ cấp một lần cho thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm tính đến thời điểm đủ điều kiện nghỉ hưu (tháng 9 năm 2024 đủ 55 tuổi), là: 01 năm x 0,5 lần = 0,5 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;

- Trợ cấp một lần cho thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn 35 năm, được tính kề từ sau thời điểm đủ điều kiện nghỉ hưu (tháng 9 năm 2024) đến thời điểm nghỉ hưu (ngày 01 tháng 7 năm 2025) là 09 tháng (được làm tròn thành 01 năm), là: 01 năm x 02 lần = 02 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;

- Tổng mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của đồng chí Trần Q là: 0,5 + 02 = 2,5 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

 Ví dụ 18: đồng chí nam sĩ quan, Thượng tá Nguyễn Hải Đ, Phó Trưởng phòng, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1970, vào Công an nhân dân tháng 9 năm 1988, được nghỉ công tác hưởng lương hưu từ ngày 01 tháng 7 năm 2030, có 41 năm 10 tháng đóng bảo hiểm xã hội. Tại thời điểm đủ 35 năm đóng bảo hiểm xã hội, đồng chí Đ có 35 năm công tác được tính thâm niên nghề trong Công an nhân dân, đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP. Do đó, đồng chí Đ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội sau 35 năm (tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%) là 6 năm 10 tháng (được tính làm tròn là 7 năm) nên ngoài lương hưu hằng tháng, đồng chí Đ còn được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu bằng 14 lần (07 năm x 02) mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.