vanban.org

Điều 6. Xử lý đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù — Thông tư 86/2026/TT-BQP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Quốc phòng Ban hành 20/06/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 86/2026/TT-BQP › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Xử lý đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù

1. Đồ vật cấm khi bị thu giữ thì được xử lý như sau:

a) Đồ vật cấm quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 4 Thông tư này thì ngay sau khi thu giữ, cơ sở giam giữ phạm nhân phải tiến hành kiểm tra, xác minh đồng thời thông báo và chuyển ngay hồ sơ, tài liệu, đồ vật có liên quan cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;

b) Đồ vật cấm quy định tại các khoản 4, 5 Điều 4 Thông tư này sau khi thu giữ phải tiến hành kiểm tra, xác minh; trường hợp có dấu hiệu tội phạm hoặc đồ vật mà cơ sở giam giữ phạm nhân không có khả năng kiểm tra, xác minh nội dung, dữ liệu bên trong thì Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định. Trường hợp không có dấu hiệu tội phạm, sau khi xử lý vi phạm, nếu đồ vật không có giá trị thì tổ chức tiêu hủy theo quy định; đối với đồ vật có giá trị thì niêm phong, bảo quản và bàn giao lại cho chủ sở hữu hoặc bàn giao cho phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc bàn giao cho người có trách nhiệm nếu phạm nhân chuyển đến cơ sở giam giữ khác;

c) Đồ vật cấm quy định tại các khoản 6, 7, 8 Điều 4 Thông tư này, căn cứ vào kết quả họp Hội đồng xử lý đồ vật cấm, Thủ trưởng cơ sở giam giữ ra quyết định xử lý và tổ chức tiêu hủy theo quy định;

d) Đồ vật cấm quy định tại khoản 9 Điều 4 Thông tư này, sau khi thu giữ thì chuyển cho bộ phận lưu ký quản lý và trả lại cho phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc bàn giao cho người có trách nhiệm nếu phạm nhân chuyển đến cơ sở giam giữ khác hoặc bàn giao cho người thân thích theo đề nghị của phạm nhân;

đ) Đồ vật cấm quy định tại các khoản 10, 12 Điều 4 Thông tư này, sau khi thu giữ phải tiến hành kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ trước khi tổ chức tiêu hủy;

e) Đồ vật cấm quy định tại khoản 11 Điều 4 Thông tư này, trong trường hợp phạm nhân tự nguyện giao nộp trước khi bị phát hiện thì được gửi lưu ký hoặc bàn giao cho người thân thích theo đề nghị của phạm nhân. Trường hợp bị phát hiện, thu giữ, đồ vật cấm được niêm phong, bảo quản, nếu xác định được chủ sở hữu thì sau khi xử lý vi phạm, bàn giao lại cho chủ sở hữu hoặc bàn giao cho phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc bàn giao cho người có trách nhiệm nếu phạm nhân chuyển đến cơ sở giam giữ khác. Trường hợp không xác định được chủ sở hữu thì Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật;

g) Các đồ vật cấm có liên quan đến vụ án hình sự thì chuyển giao cho cơ quan điều tra có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Việc xử lý đồ vật cấm bằng hình thức tiêu hủy do Hội đồng xử lý đồ vật cấm quyết định và tổ chức thực hiện. Hội đồng xử lý đồ vật cấm do Giám thị hoặc Phó Giám thị trại giam, trại tạm giam được ủy quyền làm Chủ tịch, các thành viên gồm Phó Giám thị, Chính trị viên, Đội trưởng Quản giáo, Đội trưởng Hỗ trợ tư pháp, Trợ lý giam giữ kiêm hồ sơ làm thư ký, Trợ lý giáo dục (nếu có), Trợ lý quân y hoặc nhân viên quân y, nhân viên tài chính. Đối với Phân trại thì Hội đồng do Phó Giám thị Trưởng phân trại làm chủ tịch, các thành viên gồm Phó Trưởng Phân trại, Đội trưởng Quản giáo, Đội trưởng Hỗ trợ tư pháp, Trợ lý giam giữ kiêm hồ sơ làm thư ký, nhân viên quân y, nhân viên tài chính.