Điều 16. Phương thức thẩm định lô hàng thuỷ sản xuất khẩu
1. Việc thẩm định lô hàng thuỷ sản của cơ sở đăng ký xuất khẩu được thực hiện theo một trong 03 (ba) phương thức kiểm tra sau:
a) Kiểm tra chặt;
b) Kiểm tra thông thường;
c) Kiểm tra giảm.
2. Kiểm tra chặt: thực hiện kiểm tra hồ sơ, kiểm tra cảm quan, ngoại quan tại hiện trường và lấy mẫu từng lô hàng xuất khẩu để kiểm nghiệm các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu chất lượng, ATTP theo quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Thông tư này, áp dụng đối với lô hàng đăng ký xuất khẩu của:
a) Cơ sở mới được bổ sung vào danh sách xuất khẩu;
b) Cơ sở có lô hàng bị cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu, Cơ quan thẩm quyền Việt Nam cảnh báo không đảm bảo ATTP đối với các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu: vi sinh vật gây bệnh; ký sinh trùng gây bệnh; tồn dư chất ô nhiễm, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; phụ gia, chất hỗ trợ chế biến; độc tố sinh học; chất gây dị ứng;
c) Cơ sở bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm, thuỷ sản và đang trong thời gian chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
d) Cơ sở trong danh sách xuất khẩu vào thị trường mà Cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu có yêu cầu kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm từng lô hàng trước khi xuất khẩu.
3. Kiểm tra thông thường: thực hiện kiểm tra hồ sơ, cảm quan, ngoại quan tại hiện trường và lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu chất lượng, ATTP theo tỷ lệ tương ứng với số lượng lô hàng xuất khẩu theo quy định tại Phụ lục IX ban hành kèm theo Thông tư này, áp dụng đối với lô hàng đăng ký xuất khẩu của:
a) Cơ sở nêu tại điểm a khoản 2 Điều này khi có ít nhất 05 (năm) lô hàng đã xuất khẩu được kiểm tra, chứng nhận bởi Cơ quan cấp chứng thư đạt yêu cầu trong thời gian tối thiểu 30 (ba mươi) ngày làm việc kể từ thời điểm được bổ sung vào Danh sách xuất khẩu;
b) Cơ sở nêu tại điểm b, c khoản 2 Điều này khi có ít nhất 05 (năm) lô hàng xuất khẩu đã xuất khẩu được kiểm tra, chứng nhận bởi Cơ quan cấp chứng thư đạt yêu cầu trong thời gian tối thiểu 30 (ba mươi) ngày làm việc kể từ thời điểm có Thông báo hoàn thành việc báo cáo điều tra nguyên nhân và thực hiện hành động khắc phục được chấp thuận đạt yêu cầu hoặc kể từ ngày chấp hành xong Quyết định đình chỉ sản xuất hoặc biện pháp xử lý vi phạm theo quy định pháp luật.
c) Cơ sở trong danh sách xuất khẩu vào thị trường mà Cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu có yêu cầu chứng nhận các chỉ tiêu/nhóm chỉ tiêu được lấy mẫu ngẫu nhiên cho lô hàng trước khi xuất khẩu.
4. Kiểm tra giảm: thực hiện kiểm tra hồ sơ, cảm quan, ngoại quan tại hiện trường và lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu chất lượng, ATTP theo tỷ lệ tương ứng so với số lượng lô hàng xuất khẩu theo quy định tại Phụ lục IX ban hành kèm theo Thông tư này, áp dụng đối với lô hàng đăng ký xuất khẩu của Cơ sở nêu tại điểm a, b khoản 3 Điều này sau khi duy trì tốt điều kiện bảo đảm ATTP trong thời gian tối thiểu 6 (sáu) tháng kể từ thời điểm được áp dụng chế độ kiểm tra thông thường.
5. Cơ quan cấp Chứng thư thực hiện lập, cập nhật và công bố danh sách cơ sở thuộc phương thức kiểm tra tương ứng trên Cổng thông tin điện tử; thông báo tới cơ sở thuộc địa bàn trong thời hạn tối đa 03 (ba) ngày làm việc kể từ thời điểm các Cơ sở đủ điều kiện chuyển đổi giữa các phương thức kiểm tra theo quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều này.