vanban.org

Điều 12. Trách nhiệm của đơn vị chủ trì trong công tác bảo vệ phiên tòa, phiên họp — Thông tư 42/2026/TT-BCA

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 13/06/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Công an Ban hành 29/04/2026 Hiệu lực 13/06/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 42/2026/TT-BCA › Chương III › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Trách nhiệm của đơn vị chủ trì trong công tác bảo vệ phiên tòa, phiên họp

1. Khi nhận được lịch, quyết định đưa vụ án ra xét xử, văn bản yêu cầu bảo vệ phiên tòa, phiên họp, đơn vị chủ trì có trách nhiệm đề nghị Tòa án nhân dân cung cấp, trao đổi những thông tin liên quan đến vụ án đưa ra xét xử để phục vụ xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ phiên tòa, phiên họp và dự kiến các tình huống có thể xảy ra, biện pháp xử lý.

2. Đối với các phiên tòa xét xử vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa, phiên họp có trách nhiệm:

a) Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng báo cáo, đề xuất lãnh đạo Bộ Công an huy động lực lượng của đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an và Công an địa phương tham gia bảo vệ phiên tòa (nếu cần thiết);

b) Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an cấp tỉnh hoặc đơn vị khác chủ trì có trách nhiệm báo cáo, đề xuất Giám đốc Công an tỉnh, thành phố huy động lực lượng của đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh và tham mưu Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành, chính quyền địa phương cơ sở tham gia công tác bảo vệ phiên tòa, phiên họp (nếu cần thiết).

3. Người chỉ huy hoặc cán bộ được giao phụ trách bảo vệ phiên tòa, phiên họp thông báo kịp thời đến Chủ tọa phiên tòa, phiên họp về tình hình, diễn biến sự việc phức tạp.