vanban.org

Điều 6. Chính sách đối với người lao động thuộc tập thể người lao động nhập giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước — Thông tư 42/2009/TT-BLĐTBXH

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 13/02/2010 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Ban hành 30/12/2009 Hiệu lực 13/02/2010 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 42/2009/TT-BLĐTBXH › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Chính sách đối với người lao động thuộc tập thể người lao động nhập giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

1. Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (hưởng lương, đóng bảo hiểm xã hội, kể cả người đang tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, đang nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn, nếu có) tham gia nhận giao doanh nghiệp đó thì tại thời điểm giao được hưởng quyền sở hữu doanh nghiệp theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 109/2008/NĐ-CP. Thời gian để tính hưởng quyền sở hữu doanh nghiệp là thời gian thực tế làm việc tại khu vực nhà nước (tính cộng dồn), bao gồm:

a) Thời gian người lao động thực tế làm việc tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

b) Thời gian có hưởng lương từ nguồn doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, ngân sách nhà nước (thời gian đào tạo, công tác …), hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (nghỉ ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp).

c) Thời gian làm việc theo hình thức khoán sản phẩm, khối lượng công việc mà trong thời gian này doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có trả lương và có đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động theo quy định của pháp luật.

2. Người lao động được hỗ trợ kinh phí tổ chức việc đào tạo, đào tạo lại để giải quyết việc làm từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp theo quy định tại khoản 4, Điều 25 Nghị định số 109/2008/NĐ-CP và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

3. Người lao động được đảm bảo việc làm tối thiểu là ba năm, kể từ ngày nhận giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước theo quy định tại khoản 2, Điều 21 Nghị định số 109/2008/NĐ-CP, trừ trường hợp người lao động tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động. Sau thời hạn cam kết trong phương án sử dụng lao động đã được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phê duyệt, chế độ trợ cấp thôi việc (nếu có), mất việc làm (nếu có), trợ cấp thất nghiệp (nếu có) đối với người lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và các chính sách có liên quan.

Trường hợp doanh nghiệp sau khi giao cho tập thể người lao động lâm vào tình trạng phá sản, thực hiện phá sản thì chế độ, quyền lợi đối với người lao động được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.