Điều 5. Nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của người chỉ huy:
a) Phổ biến, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ nắm vững mục đích, yêu cầu và biện pháp tiến hành theo kế hoạch, phương án đã phê duyệt; giao nhiệm vụ cho từng lực lượng, từng tổ, từng người tham gia bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự;
b) Kiểm tra việc nắm vững yêu cầu, nhiệm vụ được phân công của cán bộ, chiến sĩ tham gia bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự và công tác chuẩn bị về phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị nghiệp vụ để bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự;
c) Tổ chức cán bộ, chiến sĩ diễn tập phương án và xử lý các tình huống dự kiến xảy ra (nếu cần thiết);
d) Khi có căn cứ xác định việc cưỡng chế dân sự có khả năng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội mà lực lượng tiến hành bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự chưa có biện pháp khắc phục, giải quyết thì đề nghị người chủ trì việc cưỡng chế xem xét, quyết định tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, chiến sĩ:
a) Có mặt tại địa điểm cưỡng chế dân sự trong quá trình cơ quan thi hành án dân sự thực hiện cưỡng chế; trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu hợp pháp của người chủ trì cưỡng chế;
b) Yêu cầu những người không liên quan ra khỏi khu vực cưỡng chế dân sự; quan sát thái độ chấp hành của người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và những người có liên quan để kịp thời ngăn chặn các hành vi cản trở, chống đối, gây rối trật tự, tẩu tán tài sản hoặc lợi dụng ghi âm, ghi hình, chụp ảnh có thể gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự; quan sát, bảo vệ khu vực cưỡng chế và việc di chuyển tài sản, khi phát hiện có biểu hiện bất thường phải báo cáo ngay người chỉ huy để kịp thời ngăn chặn, xử lý;
c) Báo cáo và thực hiện mệnh lệnh của người chỉ huy đối với các tình huống đột xuất xảy ra như tụ tập đông người, gây kích động tiêu cực đến người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế dân sự và những người có liên quan.