Điều 33. Xác minh Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa
1. Việc kiểm tra, xác minh Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa được thực hiện xác suất hoặc khi Cơ quan hải quan của Nước thành viên nhập khẩu có nghi ngờ hợp lý về tính xác thực của chứng từ đó, về xuất xứ của hàng hóa hoặc việc đáp ứng các quy định khác tại Thông tư này.
2. Theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan hải quan của Nước thành viên nhập khẩu, tùy theo từng trường hợp, gửi đề nghị kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa bằng thư điện tử hoặc hình thức khác có ghi nhận việc gửi, kèm theo bản sao của Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa và lý do nghi ngờ. Bất kỳ chứng từ khác và thông tin chỉ ra rằng thông tin khai báo trên Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa không chính xác, phải được gửi kèm để hỗ trợ cho yêu cầu kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa.
3. Cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên xuất khẩu thực hiện việc kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa. Cơ quan này có quyền yêu cầu kiểm tra tại cơ sở sản xuất của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất, kiểm tra chứng từ lưu trữ của nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu hoặc bất kỳ chứng từ khác liên quan đến xuất xứ hàng hóa theo quy định pháp luật Nước thành viên xuất khẩu.
4. Cơ quan hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên nhập khẩu đề nghị xác minh xuất xứ được thông báo về kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa trong vòng 06 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu nhận được thư đề nghị kiểm tra xác minh. Kết quả kiểm tra phải nêu rõ tính xác thực của các chứng từ, hàng hóa có xuất xứ và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của Thông tư này.
5. Trường hợp không nhận được thư phản hồi về kết quả kiểm tra, xác minh trong khoảng thời gian trên hoặc không đủ thông tin cần thiết để xác định tính xác thực của Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa hoặc xuất xứ của hàng hóa hoặc thư trả lời xác nhận hàng hóa không đáp ứng quy tắc xuất xứ hoặc Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa không hợp lệ, cơ quan hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên nhập khẩu, tùy theo từng trường hợp, được phép từ chối cho hưởng ưu đãi thuế quan.