Điều 31. Cơ sở địa hình và công tác trắc địa
1. Tọa độ các điểm lưới khống chế, điểm đo chi tiết, điểm đo công trình trong đo đạc trực tiếp địa hình được đo, tính toán trong hệ tọa độ VN2000, múi chiếu và kinh tuyến trục được quy định cụ thể trong thiết kế kỹ thuật.
2. Khu vực thăm dò cần xây dựng 2 cấp lưới, lưới khống chế cơ sở và lưới khống chế đo vẽ. Lưới khống chế cơ sở được nối với ít nhất 02 điểm gốc là điểm tọa độ quốc gia. Đo đạc lưới khống chế cho phép sử dụng công nghệ GNSS tĩnh hoặc bằng máy toàn đạc điện tử. Độ chính xác lưới khống chế thực hiện theo quy định trong Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT ngày 22 tháng 12 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định các yêu cầu kỹ thuật trong công tác đo đạc trực tiếp địa hình phục vụ việc lập bản đồ địa hình và cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:500, 1:1.000, 1:2.000, 1:5.000.
3. Khu vực thăm dò phải thực hiện công tác đo vẽ bản đồ địa hình tỷ lệ tương ứng theo yêu cầu của công tác thăm dò. Bản đồ phải được thành lập theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bản đồ địa hình của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tỷ lệ bản đồ địa hình từ 1:500 đến 1:2.000, tùy thuộc vào cấu trúc địa chất, quy mô thân quặng và mức độ phức tạp của địa hình. Biên tập bản đồ địa hình thực hiện theo quy định tại Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT.
4. Các công trình thăm dò, mặt cắt tuyến và điểm khép góc khu vực phải xác định tọa độ, độ cao. Điểm cơ sở để xác định là các điểm lưới khống chế, độ chính xác điểm đo công trình có sai số không quá 1/3 khoảng cao đều cơ bản.