vanban.org

Điều 22. Cấp lại Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài — Thông tư 17/2011/TT-BTP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/08/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 5/5 · từ 10/08/2021 Thay thế: 05/2021/TT-BTP · 24/06/2021 Sửa đổi, bổ sung: 04/2017/TT-BTP · 12/04/2017
Bộ Tư pháp Ban hành 14/10/2011 Hiệu lực 01/12/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời thông tư · 9 phiên bản · 19 năm
Thông tư số 05/2021/TT-BTP Hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư · 05/2021/TT-BTP
Thông tư số 17/2011/TT-BTP Hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư, Nghị định hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Luật sư về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư · 17/2011/TT-BTP
Thông tư số 02/2007/TT-BTP Hướng dẫn một số quy định của Luật luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư · 02/2007/TT-BTP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 17/2011/TT-BTP › Chương IV › Điều 22
Đọc toàn văn

Điều 22. Cấp lại Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài

1. Trong trường hợp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài bị mất, bị rách, bị cháy hoặc vì lý do khác không cố ý, luật sư nước ngoài gửi hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy phép hành nghề tại Việt Nam đến Bộ Tư pháp. Hồ sơ gồm có:

a) Giấy đề nghị cấp lại Giấy phép hành nghề của luật sư nước ngoài, trong đó nêu rõ lý do, số Giấy phép. Giấy đề nghị phải có xác nhận của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó đang hành nghề;

b) Các giấy tờ theo quy định tại Điều 82 của Luật Luật sư.

2. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tư pháp cấp lại Giấy phép hành nghề tại Việt Nam cho luật sư nước ngoài.