Điều 3. Tiếp nhận, bảo quản tài sản và hồ sơ có liên quan
1. Tiếp nhận, bảo quản tài sản.
Cơ quan nhà nước quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước quyết định việc giao cho các cơ quan, đơn vị thực hiện tiếp nhận, bảo quản tài sản trong thời gian chờ xử lý, cụ thể:
a) Giao cho cơ quan nhà nước có chức năng về quản lý văn hóa đối với tài sản là di tích lịch sử - văn hóa, bảo vật quốc gia, di vật hoặc cổ vật là hiện vật độc bản hoặc có giá trị đặc biệt về văn hóa, khoa học, lịch sử theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
b) Giao cho cơ quan an ninh, quốc phòng đối với tài sản là vũ khí, chất nổ, chất phóng xạ, phương tiện kỹ thuật đặc chủng và các tài sản khác liên quan đến an ninh, quốc phòng.
c) Giao cho Kho bạc nhà nước cấp tỉnh (tài sản do cơ quan cấp Trung ương và cấp tỉnh quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước) hoặc Kho bạc nhà nước cấp huyện (tài sản do cơ quan cấp huyện quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước) đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ, chứng chỉ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý.
d) Giao cho cơ quan kiểm lâm đối với các tài sản là lâm sản. Trong trường hợp lâm sản là động vật rừng bị thương, ốm, yếu cần cứu hộ thì chuyển cho Trung tâm cứu hộ động vật nơi gần nhất trước khi giao cho cơ quan kiểm lâm.
đ) Giao cho cơ quan tài chính cùng cấp đối với vật chứng, tài sản tạm giữ mà bản án, tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước. Riêng đối với tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước do cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành thì giao cho Sở Tài chính nơi cơ quan thi hành án quân khu đóng trụ sở.
e) Giao cho cơ quan nhà nước có chức năng về quản lý y tế đối với tài sản là thuốc chữa bệnh, trang thiết bị phục vụ chữa bệnh.
g) Cơ quan của người ra quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước tiếp nhận, bảo quản đối với các tài sản không thuộc phạm vi quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này.
2. Trường hợp cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, bảo quản tài sản không có điều kiện bảo quản tài sản thì được ủy quyền cho cơ quan, tổ chức khác có đủ điều kiện cơ sở vật chất, kho tàng để bảo quản và phải trả các chi phí có liên quan phát sinh, trừ một số trường hợp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Thông tư này. Việc ủy quyền bảo quản tài sản phải được lập hợp đồng theo quy định của pháp luật.
3. Tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ có liên quan đến tài sản.
a) Bộ Tài chính (Cục Quản lý công sản) tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ có liên quan (sau đây gọi chung là hồ sơ) đối với tài sản thuộc thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tài chính theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 4 Thông tư này.
b) Cơ quan quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước tiếp nhận hồ sơ đối với tài sản bị đánh rơi, bỏ quên được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được chủ sở hữu theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 4 Thông tư này thì tiếp nhận hồ sơ đối với tài sản đó.
c) Sở Tài chính tiếp nhận hồ sơ đối với tài sản thuộc thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 4 Thông tư này.
d) Cơ quan tài chính cấp huyện tiếp nhận hồ sơ đối với tài sản thuộc thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng được phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 4 Thông tư này.
4. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan ra quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc quyết định xác lập quyền sở hữu của nhà nước, cơ quan tiếp nhận, bảo quản tài sản quy định tại khoản 1 Điều này và các đơn vị có liên quan lập danh mục tài sản, số lượng hoặc khối lượng theo từng loại tài sản; giám định tài sản (nếu cần); lập phương án xử lý tài sản theo quy định tại Điều 4 Thông tư này.
5. Việc tiếp nhận, bảo quản tài sản và hồ sơ có liên quan được lập thành biên bản có xác nhận của bên giao, bên nhận và bên chứng kiến (nếu cần). Nội dung chủ yếu của biên bản gồm có: thời gian, địa điểm bàn giao, tiếp nhận; thành phần tham gia bàn giao, tiếp nhận; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của tài sản tại thời điểm bàn giao, tiếp nhận; danh mục hồ sơ kèm theo (nếu có) và các nội dung khác có liên quan.