Điều 62. Xử lý chênh lệch giữa tổn thất dự kiến và dự phòng rủi ro
Ngân hàng so sánh tổn thất dự kiến xác định theo quy định tại Điều 60 Thông tư này và dự phòng rủi ro xác định theo quy định tại Điều 61 Thông tư này, trường hợp có sự khác biệt, ngân hàng thực hiện như sau:
1. Trường hợp dự phòng rủi ro thấp hơn tổn thất dự kiến, khi tính cấu phần vốn tự có là cơ sở để tính tỷ lệ an toàn vốn theo quy định tại Thông tư này, ngân hàng trừ 50% phần chênh lệch vào vốn lõi cấp 1 và 50% phần chênh lệch còn lại vào vốn cấp 2 trong 02 năm kể từ ngày được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ. Kể từ năm thứ ba trở đi, ngân hàng trừ toàn bộ phần chênh lệch vào vốn lõi cấp 1.
2. Trường hợp dự phòng rủi ro cao hơn tổn thất dự kiến, khi tính cấu phần vốn tự có là cơ sở để tính tỷ lệ an toàn vốn theo quy định tại Thông tư này, ngân hàng được xem xét cộng phần chênh lệch vào vốn cấp 2 nhưng không vượt quá 0,6% giá trị tài sản có rủi ro tín dụng khách hàng được tính theo phương pháp xếp hạng nội bộ.