Điều 28. Giảm thiểu rủi ro tín dụng bằng bảo lãnh của bên thứ ba
1. Việc giảm thiểu rủi ro tín dụng bằng bảo lãnh chỉ áp dụng đối với các bên bảo lãnh quy định tại khoản 2 Điều này và phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Bên bảo lãnh bao gồm :
a) Chính phủ, ngân hàng trung ương, tổ chức công lập của Chính phủ, chính quyền địa phương;
b) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có xếp hạng tín nhiệm từ BBB- trở lên;
c) Doanh nghiệp có xếp hạng tín nhiệm từ A- trở lên;
d) Tổ chức tài chính quốc tế.
3. Việc giảm thiểu rủi ro bằng bảo lãnh của bên thứ ba phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Ngân hàng có quyền đòi nợ trực tiếp đối với bên bảo lãnh cho từng nghĩa vụ cụ thể của khách hàng, đối tác và quyền đòi nợ đó được xác định cụ thể, không thể huỷ ngang;
b) Cam kết bảo lãnh là cam kết không huỷ ngang và không có điều kiện; bên bảo lãnh không được đơn phương chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh hoặc tăng phí bảo lãnh khi khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách hàng, đối tác bị suy giảm; bên bảo lãnh phải cam kết thực hiện kịp thời nghĩa vụ bảo lãnh khi khách hàng, đối tác không thực hiện nghĩa vụ;
c) Hợp đồng bảo lãnh có thời hạn hiệu lực tối thiểu bằng thời hạn của khoản phải đòi, giao dịch;
d) Bên bảo lãnh phải có hệ số rủi ro tín dụng thấp hơn bên được bảo lãnh hoặc bên bảo lãnh có xếp hạng tín nhiệm tốt hơn bên được bảo lãnh;
đ) Bên bảo lãnh không phải là công ty mẹ, công ty con, công ty liên kết của bên được bảo lãnh.
4. Trường hợp khoản phải đòi không được bảo lãnh toàn bộ thì ngân hàng chỉ được điều chỉnh giảm cho phần số dư khoản phải đòi được bảo lãnh.