vanban.org

Điều 10. Phương pháp điện trở suất — Thông tư 02/2011/TT-BTNMT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 15/03/2011 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành 29/01/2011 Hiệu lực 15/03/2011 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 02/2011/TT-BTNMT › Chương II › Mục 2 › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Phương pháp điện trở suất

1. Điện trở suất biểu kiến (ĐTS) được đo bằng thiết bị chuyên dùng gọi là hệ cực. Hệ cực có hai cực phát dòng ký hiệu là A, B và hai điện cực thu ký hiệu là M, N. Cực B được nối đất cố định trên mặt đất gần miệng lỗ khoan, các điện cực còn lại được thả trong lỗ khoan gồm ba cực A, M và N. Khi sử dụng hệ điện cực này, giá trị điện trở suất biểu kiến được xác định theo biểu thức:

                             (2)

                         (3)

 K - Là Hệ số điện cực;

ΔU - Là hiệu điện thế giữa hai điện cực thu MN tính bằng mV;

 I. Là cường độ dòng điện trong mạch phát AB tính bằng mA.

2. Hệ điện cực thả trong lỗ khoan có hai loại:

a) Hệ điện cực thế, khi khoảng cách AM << MN;

b) Hệ điện cực gradien, khi khoảng cách AM>>MN;

c) Hệ điện cực thế và hệ điện cực gradien được chia thành hai loại:

 - Hệ điện cực thuận khi vị trí của cặp điện cực khác cặp (thu-phát) ở phía trên cặp điện cực cùng cặp (thu-thu);

- Hệ điện cực nghịch khi vị trí của cặp điện cực khác cặp ở phía dưới cặp điện cực cùng cặp.

d) Độ dài của các hệ điện cực được quy định như sau:

 - Chiều dài của hệ cực thế L:

L = AM (m)

- Chiều dài hệ cực gradien L:

L = AO (m)

 Điểm O là điểm giữa của MN.

3. Phương pháp điện trở được tiến hành trong các lỗ khoan không mất nước và các đoạn lỗ khoan không có ống chống khi kéo cáp từ dưới lên.

 Tỷ lệ ghi n là giá trị điện trở suất tính bằng Ωm/cm, được tính theo biểu thức:

                        (4)

L0 - Độ dịch chuyển của bút ghi trên băng ghi tính bằng cm;

R0 - Điện trở chuẩn tính bằng ôm;

K - Hệ số điện cực.

Ở các trạm ghi số, tỷ lệ ghi n là tỷ lệ biểu diễn giá trị điện trở suất ứng với 1cm theo trục ngang của thiết đồ địa vật lý lỗ khoan khi in ra giấy hoặc trên màn hình.

Tốc độ kéo cáp đối với phương pháp điện trở từ 300 đến 600m/h.

4. Nhiễu thường gặp khi đo điện trở có dấu hiệu sau:

a) Đường cong có dạng lặp lại;

b) Đường cong dao động không theo một quy luật nào, xuất hiện các giá trị đột biến khi bắt đầu di chuyển cáp cũng như khi bắt đầu dừng cáp;

c) Có sự xê dịch "đường 0" của đường cong điện trở;

d) Khi hệ cực ở trong đoạn có ống chống quan sát có sự dao động rõ ràng;

đ) Có sự thay đổi dòng ở hai cực phát A và B.

5. Các biện pháp hạn chế ảnh hưởng của nhiễu lên kết quả đo:

a) Dùng tời có lượng cáp không quá nhiều so với chiều sâu thả cáp;

b) Đảm bảo cho điện trở đầu ra của ruột cáp cùng tên (thu, phát) là bằng nhau và điện trở các ruột cáp cùng tên không chênh lệch quá 1Ω;

c) Sử dụng dòng phát có tần số thích hợp;

d) Các mạch điện phải có độ cách điện tốt;

đ) Chọn cách đấu liên hợp thích hợp nhất.