vanban.org

Điều 17. Tổ chức thực hiện kiểm tra — Thông tư 01/2026/TT-KTNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/03/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Kiểm toán nhà nước Ban hành 12/01/2026 Hiệu lực 01/03/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 01/2026/TT-KTNN › Chương III › Điều 17
Đọc toàn văn

Điều 17. Tổ chức thực hiện kiểm tra

1. Công bố quyết định và kế hoạch kiểm tra.

a) Chậm nhất sau 15 ngày làm việc kể từ ngày ký ban hành quyết định kiểm tra, Trưởng Đoàn kiểm tra phải tổ chức công bố quyết định, kế hoạch kiểm tra (dự kiến lịch trình kiểm tra) với đơn vị được kiểm tra.

b) Thành phần tham dự cuộc họp công bố quyết định, kế hoạch kiểm tra phải có Thủ trưởng đơn vị được kiểm tra (hoặc người được ủy quyền). Trưởng Đoàn kiểm tra công bố quyết định kiểm tra; thông báo mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm tra; nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền, trách nhiệm của Đoàn kiểm tra; quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm tra và thống nhất sự phối hợp hoạt động giữa Đoàn kiểm tra và đơn vị được kiểm tra.

2. Thực hiện kiểm tra.

Căn cứ kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt, Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra, đưa ra đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị đối với đơn vị được kiểm tra về việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Việc xác nhận tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán phải đảm bảo nguyên tắc tất cả các nội dung làm căn cứ xác nhận, kết luận phải được thể hiện bằng văn bản (công văn, biên bản làm việc, các tài liệu khác có liên quan). Việc thu thập bằng chứng thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán thực hiện theo quy định về hướng dẫn bằng chứng thực hiện kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

3. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo trong quá trình kiểm tra.

a) Chế độ báo cáo của thành viên Đoàn kiểm tra:

Trong quá trình kiểm tra, các thành viên Đoàn kiểm tra thường xuyên báo cáo Trưởng Đoàn kiểm tra (trường hợp thành lập Tổ kiểm tra, các thành viên Tổ kiểm tra báo cáo Tổ trưởng Tổ kiểm tra; Tổ trưởng Tổ kiểm tra báo cáo Trưởng Đoàn kiểm tra) về tình hình, kết quả công việc được phân công và những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo. Chế độ báo cáo được quy định cụ thể trong kế hoạch kiểm tra.

b) Chế độ báo cáo của Trưởng Đoàn kiểm tra:

- Trong quá trình kiểm tra có khó khăn, vướng mắc vượt khả năng, thẩm quyền, Trưởng Đoàn kiểm tra báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra để xin ý kiến chỉ đạo theo thẩm quyền.

- Trường hợp qua kiểm tra, nếu phát hiện các vi phạm có dấu hiệu tội phạm, kịp thời báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra để báo cáo Tổng Kiểm toán nhà nước xử lý theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều này.

c) Chế độ báo cáo của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra:

- Trường hợp có khó khăn, vướng mắc vượt khả năng và thẩm quyền trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán, Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra báo cáo Tổng Kiểm toán nhà nước xin ý kiến chỉ đạo.

- Trường hợp qua kiểm tra, nếu phát hiện các vi phạm có dấu hiệu tội phạm, kịp thời báo cáo Tổng Kiểm toán nhà nước để chuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, không chờ đến khi kết thúc quá trình kiểm tra. Đồng thời, nếu phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý, kịp thời báo cáo Tổng Kiểm toán nhà nước để thông báo ngay các thông tin và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho cấp có thẩm quyền theo đúng quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.