Điều 4.
1. Tàu bay có thể được đăng ký tạm thời trong các trường hợp sau đây:
a) Tàu bay đang được chế tạo tại Việt Nam và người sở hữu là cá nhân hoặc tổ chức của Việt Nam đáp ứng đủ các các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 1 của Quy chế này;
b) Tàu bay đã được chế tạo xong tại Việt Nam và người sở hữu là tổ chức hoặc cá nhân của Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 3 của Quy chế này, có nhu cầu trưng bầy, triển lãm hoặc bán tàu bay tại nước ngoài;
c) Tàu bay đã được chế tạo xong tại nước ngoài và chuẩn bị đưa về Việt Nam cho các tổ chức hoặc cá nhân của Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 1 của Quy chế này trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu tàu bay.
2. Nhằm mục đích bay trong vùng trời Việt Nam, tàu bay cũng có thể được đăng ký tạm thời với điều kiện là điểm khởi hành và điểm đến nằm trong lãnh thổ Việt Nam, không bay qua bất kỳ lãnh thổ của Quốc gia nào và được phép của Cục Hàng không dân dụng Việt Nam sau khi có ý kiến của Bộ Quốc phòng để:
a) Tiến hành thử nghiệm, kể cả việc thử nghiệm động cơ và trang thiết bị của tàu bay;
b) Xin cấp chứng chỉ đủ điều kiện bay hoặc công nhận chứng chỉ đủ điều kiện bay hoặc sửa chữa, tân trang;
c) Bay biểu diễn để bán tàu bay này hoặc các tàu bay tương tự;
d) Di chuyển từ căn cứ tới nơi để tiến hành các công việc quy định tại các điểm a, b, c nói trên và ngược lại.
3. Tổ chức và cá nhân trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà muốn đăng ký tàu bay tạm thời tại Việt Nam phải làm các thủ tục đăng ký tạm thời quy định tại Điều 9 Quy chế này và được cấp "Chứng chỉ đăng ký tàu bay tạm thời".
4. Việc đăng ký tạm thời tàu bay đương nhiên hết hiệu lực khi trong giấy phép cấp đăng ký tạm thời đã hết hạn.