Điều 16. Các trường hợp thu hồi, trình tự thủ tục thu hồi và cưỡng chế thu hồi nhà ở cũ.
1. Các trường hợp thu hồi nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 23 Nghị định số 34/2013/NĐ-CP.
2. Trình tự, thủ tục thu hồi nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước như sau:
a) Đơn vị quản lý vận hành nhà ở có văn bản thông báo nêu rõ lý do yêu cầu người thuê nhà ở bàn giao lại nhà ở cho Đơn vị quản lý vận hành nhà ở trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo. Hết thời hạn 60 ngày mà người thuê nhà không bàn giao nhà ở theo yêu cầu, Đơn vị quản lý vận hành nhà ở báo cáo Sở Xây dựng, kèm theo hồ sơ đề nghị thu hồi nhà ở;
b) Căn cứ hồ sơ đề nghị thu hồi nhà ở của Đơn vị quản lý vận hành nhà ở, Sở Xây dựng tổ chức kiểm tra, lập Tờ trình, đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định thu hồi nhà ở (kèm theo dự thảo Quyết định thu hồi nhà ở)
Nội dung Quyết định thu hồi nhà ở gồm:
b.1) Các căn cứ pháp lý để thu hồi nhà ở; địa chỉ nhà ở và tên người thuê, sử dụng nhà ở bị thu hồi;
b.2) Lý do thu hồi nhà ở;
b.3) Tên cơ quan, đơn vị thực hiện thu hồi nhà ở;
b.4) Thời hạn thực hiện thu hồi nhà ở;
b.5) Phương án quản lý sử dụng nhà ở sau khi thu hồi;
b.6) Đối với trường hợp nhà ở thuê quy định tại điểm b, c, d, đ, e, khoản 1 Điều 24 Nghị định 34/2013/NĐ-CP, trong dự thảo Quyết định thu hồi phải đề xuất phương án hỗ trợ hoặc bố trí nhà ở khác cho người thuê, sử dụng nhà ở phù hợp quy định tại thời điểm thu hồi.
c) Căn cứ đề nghị của Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định thu hồi nhà ở.
d) Sau khi nhận được Quyết định thu hồi nhà ở, Đơn vị quản lý vận hành nhà ở có trách nhiệm gửi thông báo thu hồi bằng văn bản, kèm theo bản sao Quyết định thu hồi nhà ở cho người thuê nhà biết cụ thể thời gian thực hiện bàn giao lại nhà ở. Người thuê nhà ở có trách nhiệm bàn giao lại nhà ở cho Đơn vị quản lý vận hành nhà ở. Việc thu hồi, bàn giao nhà ở phải được lập thành biên bản, có chữ ký của các bên. Trường hợp người thuê nhà ở không nhận thông báo thu hồi hoặc không ký biên bản thu hồi, bàn giao nhà ở thì Đơn vị quản lý vận hành nhà ở mời Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở chứng kiến và ký biên bản;
đ) Thời hạn bàn giao nhà ở là không quá 60 ngày, kể từ ngày người thuê nhà ở nhận được văn bản thông báo của Đơn vị quản lý vận hành nhà ở về việc thu hồi nhà ở quy định tại điểm d, khoản 2 Điều này;
e) Sau khi thu hồi nhà ở, Đơn vị quản lý vận hành nhà ở chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng nhà ở theo Quyết định thu hồi và có văn bản báo cáo Sở Xây dựng về việc đã hoàn thành thu hồi nhà ở.
3. Trình tự, thủ tục cưỡng chế thu hồi nhà ở cũ:
a) Trường hợp người thuê nhà ở thuộc diện bị thu hồi không bàn giao lại nhà ở theo thời hạn quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều này thì Đơn vị quản lý vận hành nhà ở phải có báo cáo kèm theo hồ sơ đề nghị cưỡng chế thu hồi nhà ở gửi Sở Xây dựng;
b) Sau khi nhận được báo cáo và hồ sơ đề nghị cưỡng chế thu hồi nhà ở của Đơn vị quản lý vận hành nhà ở, Sở Xây dựng kiểm tra và có Tờ trình kèm theo dự thảo Quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở, báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở;
c) Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở bị thu hồi và các cơ quan, đơn vị phối hợp thực hiện cưỡng chế thu hồi nhà ở;
d) Sau khi nhận được Quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có nhà ở bị thu hồi chịu trách nhiệm chủ trì việc tổ chức cưỡng chế thu hồi nhà và bàn giao nhà ở cho Đơn vị quản lý vận hành nhà ở quản lý theo quy định. Việc bàn giao nhà ở phải lập thành biên bản có xác nhận của các cơ quan, đơn vị tham gia cưỡng chế thu hồi;
đ) Thời hạn thực hiện cưỡng chế thu hồi nhà ở là không quá 60 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi nhà ở;
e) Sau khi tiếp nhận nhà ở do Ủy ban nhân dân cấp huyện bàn giao, Đơn vị quản lý vận hành nhà ở có trách nhiệm quản lý nhà ở theo quy định.