Điều 8. Soạn thảo, đánh máy, in ấn, sao chụp tài liệu thuộc danh mục các độ mật phải tuân theo quy định sau.
- Người được giao nhiệm vụ soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước phải nắm vững Pháp lệnh, Nghị định của Chính phủ (Điều 8), quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước, danh mục bí mật Nhà nước của Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương. Người soạn thảo văn bản có nội dung bí mật Nhà nước phải đề xuất mức độ mật của từng loại tài liệu, người ký duyệt chịu trách nhiệm quyết định đóng dấu độ mật (Tuyệt mật, Tối mật, Mật) và phạm vi lưu hành tài liệu.
- Việc sao, chụp các loại tài liệu có độ “Tuyệt Mật”, “Tối Mật”, “Mật” phải được sự đồng ý bằng văn bản của Giám đốc Sở; Thủ trưởng các Ban, ngành của Tỉnh (nơi ban hành tài liệu gốc).
- Các dấu độ mật (từ thấp đến cao), thu hồi tài liệu mật theo quy định thống nhất của Bộ Công an (Thông tư số 12/2002/TT-BCA (A11) ngày 13/9/2002 của Bộ Công an).
- Bộ phận văn thư, lưu trữ và người được giao xử lý tài liệu mật có trách nhiệm đóng dấu các độ mật đã được ấn định, vào sổ công văn để theo dõi, quản lý, thu hồi theo quy định.