Điều 5. Bồi thường, hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản khi Nhà nước thu hồi đất (thực hiện Điều 104 Luật Đất đai, khoản 2 Điều 21 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP)
1. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được bồi thường chi phí di chuyển mức 5.000.000 đồng/hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp mức bồi thường 5.000.000 đồng/hộ gia đình không đảm bảo thực hiện di chuyển, Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lập dự toán trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.
2. Trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất thì Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lập biên bản kiểm tra hiện trạng có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thu hồi đất và nơi sẽ lắp đặt hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định xác định hoặc thuê Đơn vị tư vấn đủ năng lực lập dự toán tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt, đánh giá mức độ thiệt hại khi tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt theo phương pháp lập dự toán trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.
3. Khi hết thời hạn tồn tại của công trình ghi trong giấy phép xây dựng có thời hạn và cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định thu hồi đất, chủ đầu tư có trách nhiệm tự phá dỡ công trình và được nhà nước hỗ trợ 10% chi phí thực tế tháo dỡ, phá dỡ, di chuyển tài sản.