Điều 20. Khuyến khích ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
1. Tổ chức, cá nhân ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đĨ đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm được hưởng ưu đãi về thuế theo quy định tại Điều 25 của Quy định này và được hưởng ưu đãi về tín dụng đĨ vay đầu tư cho các hoạt động khoa học và công nghệ theo điều lệ của các quỹ nơi vay vốn. Thu nhập tăng thêm sau thuế do ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ được trích 50% đĨ đầu tư lại cho hoạt động khoa học và công nghệ và thưởng cho cá nhân, tập thể có công trong việc nghiên cứu tạo ra và tổ chức ứng dụng thành công thành tựu khoa học và công nghệ đó; thời gian trích tối đa không quá 3 năm.
2. Tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ khi chuyển nhượng, chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển của mình vào sản xuất và đời sống, được tạo điều kiện đĨ quảng cáo, giới thiệu, trình diễn kết quả nghiên cứu và phát triển; tham gia triển lãm, hội chợ.
3. Lợi nhuận thu được khi chuyển nhượng, chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển được phân chia cho các nhà khoa học tạo ra kết quả, cho chủ sở hữu kết quả, cho tổ chức khoa học và công nghệ của nhà khoa học và cho người môi giới. Tỷ lệ phân chia được thoả thuận trong hợp đồng khoa học và công nghệ giữa các bên.
Trong trường hợp công nghệ được tạo ra là kết quả của đỊ tài nghiên cứu khoa học và công nghệ do ngân sách Nhà nước đầu tư kinh phí (trừ các công nghệ thuộc bí mật về an ninh, quốc phòng và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ) thì tác giả được nhận tối đa 30% giá thanh toán chuyển giao công nghệ.
4. Người môi giới cho việc ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ được tạo ra bằng ngân sách Nhà nước được hưởng tối đa 10% giá thanh toán chuyển giao công nghệ, mức cụ thể và trách nhiệm thanh toán khoản kinh phí này do các bên thoả thuận.