Điều 4. Phân bổ và sử dụng Quỹ phòng, chống thiên tai đối với cấp xã
1. Ủy ban nhân dân cấp xã giữ lại 28% số thu trên địa bàn để thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Trích 5% từ nguồn thu để hỗ trợ chi thù lao cho lực lượng trực tiếp thu theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định số 78/2021/NĐ-CP, gồm:
- Hỗ trợ xăng xe máy, vật dụng sổ tay, bút viết, các vật dụng cần thiết khác.
- Hỗ trợ thù lao cho người đi thu trực tiếp trên địa bàn cấp xã tùy thuộc vào nguồn thu, mức chi tối đa không quá 150.000 đồng/ngày/người.
b) Trích 3% từ nguồn thu cho chi phí hành chính phát sinh liên quan đến công tác thu quỹ, gồm:
- Mua biên lai thu, vật tư, văn phòng phẩm, nhiên liệu, thông tin, liên lạc và các dịch vụ công cộng khác.
- Chi hỗ trợ cho cán bộ công chức, viên chức cấp xã làm nhiệm vụ liên quan đến công tác thu quỹ tại địa phương: mức chi hỗ trợ tùy thuộc vào nguồn kinh phí được trích giữ lại 3% trong năm, nhưng tối đa không quá 300.000 đồng/người/tháng.
c) Trích 20% từ nguồn thu để chi thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống thiên tai tại cấp xã, các nội dung chi được áp dụng các khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 3 tại Quy định này nhưng không được trùng lặp với các khoản đã chi từ nguồn Quỹ phòng, chống thiên tai thành phố và không vượt quá 20% tổng số thu quỹ trên địa bàn trong năm.
d) Số tiền thu quỹ còn lại trên địa bàn cấp xã là 72% nộp vào tài khoản của Quỹ cấp thành phố.
đ) Sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã có báo cáo quyết toán kinh phí, Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện thu hồi khoản phân bổ nếu còn dư hoặc quyết định phân bổ khi nguồn kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ phòng chống thiên tai tại cấp xã đã sử dụng hết.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm về quản lý các khoản thu, chi nguồn Quỹ phòng, chống thiên tai tại địa phương và báo cáo định kỳ trước ngày 15 hàng tháng về cơ quan quản lý Quỹ thành phố để theo dõi, tổng hợp.