Điều 5. Mức thu thủy lợi phí để làm cơ sở cấp bù được tính như sau:
1. Diện tích tưới, tiêu do các Công ty KTCTTL phục vụ.
a) Diện tích tưới, tiêu chủ động.
- Đối với diện tích đất trồng lúa:
+ Tưới, tiêu chủ động bằng động lực vùng đồng bằng thu 1.646.000 đồng/ha/vụ;
+ Tưới, tiêu chủ động bằng động lực vùng miền núi thu 1.811.000 đồng/ha/vụ;
+ Tưới, tiêu chủ động bằng trọng lực vùng đồng bằng thu 1.152.000 đồng/ha/vụ.
Quy định các khu vực đồng bằng và miền núi để áp dụng tính mức thu TLP như sau:
+ Vùng miền núi là phần diện tích đất nông nghiệp phía Tây sông Đáy của các xã: Thanh Thuỷ, Kiện Khê, Thanh Tân, Thanh Hải, Thanh Nghị (thuộc huyện Thanh Liêm); Ba Sao, Khả Phong, Thi Sơn, Thanh Sơn, Liên Sơn và phần diện tích phía ngoài đê Tả Đáy (phía sông) của 02 xã Tượng Lĩnh, Tân Sơn (thuộc huyện Kim Bảng).
+ Vùng đồng bằng: là phần diện tích đất nông nghiệp còn lại trong tỉnh.
- Đối với diện tích trồng mạ, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây vụ Đông thu bằng 40% mức thu đất của diện tích trồng lúa.
- Đối với diện tích chuyên trồng màu thì vụ được tính theo chu kỳ sinh trưởng thực tế của cây trồng. Những cây ngắn ngày được tính là 03 tháng/vụ.
- Đối với diện tích ao, đầm, hồ chuyên nuôi trồng thủy sản được công trình thủy lợi cấp và tiêu nước, thay nước theo kỹ thuật nuôi trồng thủy sản quy định (thời gian từ 09 tháng trở lên trong một năm) mức thu 250 đồng/m2 mặt nước/năm (lấy diện tích được giao sử dụng đất làm căn cứ).
Diện tích chuyên nuôi trồng thủy sản nhưng công trình thủy lợi chỉ cấp nước lần đầu mà không thay nước theo yêu cầu kỹ thuật. Mức thu 125 đồng/m2 mặt nước/năm.
- Đối với diện tích chuyển đổi từ sản xuất 02 lúa sang sản xuất đa canh theo mô hình Lúa - Cá quy định như sau:
+ Diện tích trồng lúa thì thu thủy lợi phí theo mức của cây lúa.
+ Diện tích đã cấy lúa sau khi thu hoạch lúa thời gian còn lại trong năm thì thu theo nuôi trồng thủy sản với mức 125 đồng/m2 mặt nước.
b) Diện tích tưới tiêu chủ động một phần thì thu bằng 60% mức thu TLP của diện tích tưới tiêu chủ động cho từng loại cây trồng tương ứng.
c) Diện tích chỉ tạo nguồn tưới, tiêu:
- Tạo nguồn bằng động lực: mức thu TLP tạo nguồn bằng 50% mức thu TLP tưới tiêu chủ động bằng động lực của từng loại cây trồng tương ứng.
- Tạo nguồn bằng trọng lực: mức thu TLP tạo nguồn bằng 40% mức thu TLP tưới tiêu chủ động bằng trọng lực của từng loại cây trồng tương ứng.
d) Trường hợp phải tách riêng mức thu cho tưới, tiêu trên cùng một diện tích thì mức thu thủy lợi phí cho tưới tính bằng 70%, cho tiêu bằng 30% mức thu quy định tại các điểm a, b,c của khoản 1 điều 5.
đ) Quy định về các vùng diện tích tưới tiêu tạo nguồn bậc 1, bậc 2 như sau:
- Khu vực Duy Tiên, Kim Bảng:
+ Phần diện tích tạo nguồn từ các hệ thống trạm bơm, cống, đập, lấy nước hoặc tiêu nước trực tiếp ra sông Đáy, sông Hồng là tưới tiêu tạo nguồn bậc 1.
+ Phần diện tích do các hệ thống trạm bơm, cống, đập, lấy nước hoặc tiêu nước trực tiếp ra sông Nhuệ, sông Duy Tiên, sông Châu Giang để tạo nguồn một lần nữa là tưới, tiêu tạo nguồn bậc 2.
- Khu vực Nam Hà Nam:
+ Phần diện tích tạo nguồn từ các hệ thống trạm bơm, cống, đập, lấy nước hoặc tiêu nước trực tiếp ra sông Đáy, sông Hồng là tưới tiêu tạo nguồn bậc 1.
+ Phần diện tích tạo nguồn từ các hệ thống trạm bơm, cống, đập, lấy nước hoặc tiêu nước trực tiếp ra sông Châu Giang, sông Sắt, sông Kinh Thủy, sông Biên Hòa, sông Mỹ Đô là tưới tiêu tạo nguồn bậc 2.
e) Mức thu TLP tại khoản 1, điểm a, b, c và d điều này được tính từ sau cống đầu kênh của Tổ chức hợp tác dùng nước đến công trình đầu mối.
f) Mức thu TLP của các diện tích tưới, tiêu do các đơn vị quản lý thủy nông đầu mối phục vụ trên địa bàn tỉnh thực hiện như sau:
- Mức thu TLP tạo nguồn của công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi sông Nhuệ cho công ty KTCTTL Kim Bảng và công ty thủy lợi Duy Tiên được tính theo thỏa thuận giữa các Công ty.
- Mức thu TLP tạo nguồn của công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên KTCTTL Bắc Nam Hà cho công ty KTCTTL Nam Hà Nam tính theo tỷ lệ quy định tại điểm a, khoản 2, điều 1 của Quyết định số 1170/QĐ-BNN-TL ngày 27 tháng 5 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc quy định mức TLP, tiền nước tại hệ thống công trình thủy lợi Bắc Nam Hà do Công ty KTCTTL Bắc Nam Hà trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý
2. Các HTXDVNN trong vùng hệ thống thủy lợi do các Công ty KTCTTL quản lý (gọi tắt là HTX trong vùng) phải bơm tiếp phần sau của các Công ty KTCTTL để thực hiện đến mức chủ động được tính mức thu TLP như sau:
- Tưới tiêu tiếp từ tạo nguồn mức thu TLP bằng 50% mức thu TLP chủ động của từng loại cây trồng tương ứng;
- Tưới tiêu tiếp từ chủ động một phần thì mức thu TLP bằng 40% mức thu TLP chủ động.
3. Các HTXDVNN ngoài vùng hệ thống thủy lợi do các Công ty KTCTTL phục vụ (gọi tắt là các HTX ngoài vùng) tự quản lý công trình đầu mối lấy nước từ sông tự nhiên (sông Hồng, sông Đáy), mức thu TLP của những diện tích tưới, tiêu được tính như mức thu trong vùng của các công ty KTCTTL.
4. Nuôi trồng thủy sản trên hệ thống công trình thủy lợi (nuôi cá bè, ao đăng) thì thu bằng 7% giá trị sản lượng, tính theo năng suất nuôi trồng thủy sản thống kê bình quân toàn tỉnh của năm trước liền kề.
Việc nuôi cá bè, ao đăng trên hệ thống công trình thủy lợi, hộ nuôi cá nhất thiết phải làm thủ tục cấp phép trước khi nuôi. Nếu được cấp có thẩm quyền cho phép, hộ nuôi cá phải tuân theo các quy định của giấy phép (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn triển khai thực hiện thủ tục cấp phép theo quy định của Pháp luật).
5. Sử dụng nước từ công trình thủy lợi (khi được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp phép) để kinh doanh du lịch, nghỉ mát, an dưỡng, kinh doanh nhà hàng (hàng ăn, giải khát, nhà nghỉ,...): mức thu bằng 10% giá trị doanh thu.