vanban.org

Điều 4. Thời điểm áp dụng, nguyên tắc thực hiện và trách nhiệm kiểm tra, xử lý khi thực hiện chính sách ưu đãi tiền thuê nhà — Quyết định 77/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 16/10/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
UBND Tỉnh Hà Tĩnh Ban hành 06/10/2026 Hiệu lực 16/10/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 77/2026/QĐ-UBND › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Thời điểm áp dụng, nguyên tắc thực hiện và trách nhiệm kiểm tra, xử lý khi thực hiện chính sách ưu đãi tiền thuê nhà

1. Thời điểm bắt đầu và kết thúc áp dụng miễn, giảm tiền thuê nhà:

a) Việc miễn, giảm tiền thuê nhà quy định tại Điều 3 Quyết định này được áp dụng kể từ ngày tổ chức quản lý, kinh doanh nhà ban hành quyết định miễn, giảm tiền thuê nhà theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 8 Điều 1 Nghị định số 286/2025/NĐ-CP);

b) Việc miễn, giảm tiền thuê nhà chấm dứt hiệu lực kể từ ngày kết thúc Hợp đồng thuê nhà do thuộc trường hợp thu hồi nhà cho thuê theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP hoặc do chấm dứt theo thỏa thuận tại Hợp đồng theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 18 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP hoặc kể từ thời điểm tổ chức quản lý, kinh doanh nhà xác định đối tượng thuê nhà không đáp ứng điều kiện hưởng chính sách ưu đãi theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định này.

2. Nguyên tắc thực hiện chính sách ưu đãi:

a) Người được quyền thuê nhà thuộc đối tượng ưu tiên phải làm thủ tục để được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 16 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 8 Điều 1 Nghị định số 286/2025/NĐ-CP), trường hợp không làm thủ tục để được hưởng chính sách ưu đãi thì phải nộp tiền thuê nhà theo quy định.

b) Đối tượng được miễn, giảm tiền thuê nhà không được tính tiền thuê nhà được miễn, giảm vào giá thành sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội.

3. Trách nhiệm kiểm tra điều kiện hưởng ưu đãi và xử lý khi không còn đáp ứng điều kiện ưu đãi:

a) Tổ chức quản lý, kinh doanh nhà chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành theo lĩnh vực hoạt động của các đối tượng ưu tiên, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà, đất cho thuê thực hiện kiểm tra định kỳ trước ngày 31 tháng 12 hằng năm hoặc đột xuất khi nhận thấy có dấu hiệu không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi của đối tượng đang được miễn, giảm tiền thuê nhà.

b) Trường hợp qua kiểm tra xác định đối tượng thuê nhà không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi tại thời điểm được miễn, giảm hoặc không còn đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi trong quá trình thuê, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà ban hành quyết định dừng áp dụng chính sách ưu đãi, trong đó xác định rõ lý do và thời điểm không đáp ứng điều kiện hưởng chính sách ưu đãi.

Căn cứ quyết định dừng áp dụng chính sách ưu đãi, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà xác định khoảng thời gian đối tượng thuê nhà không được hưởng chính sách ưu đãi kể từ thời điểm không đáp ứng điều kiện hưởng chính sách ưu đãi; xác định, thông báo và thu số tiền thuê nhà của đối tượng thuê nhà phải hoàn trả tương ứng số tiền được miễn, giảm trong khoảng thời gian trên và tiền chậm nộp của thời gian đã được miễn, giảm tính trên số tiền thuê nhà được miễn, giảm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được tổ chức quản lý, kinh doanh nhà thông báo, đối tượng thuê nhà có trách nhiệm nộp đủ số tiền nêu trên. Quá thời hạn này mà chưa nộp hoặc nộp không đủ thì đối tượng thuê nhà phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chưa nộp; mức tiền chậm nộp xác định tương đương mức tiền chậm nộp tiền thuê nhà quy định tại điểm b khoản 3 Điều 16 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP.

c) Việc truy thu, xử lý theo quy định tại khoản này không thay thế và không loại trừ việc xử lý nhà, đất cho thuê theo quy định tại Điều 17, Điều 29 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP nếu thuộc trường hợp xử lý theo các quy định này.