Điều 28. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất:
1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao và diện tích thu hồi tối thiểu từ 300m2 trở lên, được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 3 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 6 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 12 tháng. Mức hỗ trợ bằng tiền cho 01 nhân khẩu/01tháng tương đương 30 kg gạo tính theo thời giá trung bình tại địa phương, do Sở Tài Chính thông báo hàng tháng.
2. Khi Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh mà bị ngừng sản xuất kinh doanh, thì được hỗ trợ bằng 30% 1 năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 3 năm trước đó. Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế.
3. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi nhà, đất mà thực tế phải di chuyển chổ ở (kể cả đối tượng thuộc khoản 2 Điều 14 và điểm b khoản 1 Điều 32 Quy định này) thì được hỗ trợ ổn định đời sống với mức hỗ trợ bằng tiền cho 01 nhân khẩu/01 tháng tương đương 30 kg gạo tính theo thời giá trung bình tại địa phương, do Sở Tài chính thông báo hàng tháng; thời gian hỗ trợ tối đa không quá 06 (sáu) tháng. Riêng các trường hợp người sử dụng đất ở thuộc khoản 2 Điều 14 mà tại thời điểm các hộ này sử dụng đất làm nhà ở đã được các cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm buộc tháo dỡ thì không được hỗ trợ ổn định đời sống.