Điều 3. Nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin
1. Cơ quan, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin là yêu cầu bắt buộc, thường xuyên, liên tục, có tính xuyên suốt quá trình liên quan đến thông tin và thiết kế, xây dựng, vận hành, nâng cấp, hủy bỏ hệ thống thông tin. Bảo đảm an toàn thông tin tuân thủ các nguyên tắc chung quy định tại Điều 4 Luật An toàn thông tin mạng và Điều 4 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ (gọi tắt là Nghị định số 85/2016/NĐ-CP).
2. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin mạng của đơn vị mình; bố trí nhân sự chuyên trách chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin mạng; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, từng bộ phận, cá nhân trong đơn vị đối với công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng.
3. Cán bộ trong các cơ quan, đơn vị trực có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin trong phạm vi xử lý công việc của mình theo quy định của Nhà nước và của Ủy ban nhân dân tỉnh với các nội dung tương ứng trong Quy chế này.
4. Việc xử lý sự cố an toàn thông tin mạng phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, không xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân, thông tin riêng của tổ chức.